TRUNG TÂM THÔNG TIN KINH TẾ - PHÒNG THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Số 6 (9) Tháng 2/2005

   

Giới thiệu
 

Đăng ký và phản hồi
 

SỐ 22
Tiếp cận đất đai
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 21
Tổng công ty đầu tư và
kinh doanh vốn nhà nước
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 20
Đơn giản hoá thủ tục
thành lập doanh nghiệp
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 19
Hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 18
Thành lập doanh nghiệp
ở Việt Nam
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 17
Đơn giản hóa hệ thống
giấy phép kinh doanh
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 16
Hỗ trợ doanh nhân nữ
phát triển
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 15
Trung tâm thông tin
tín dụng tư nhân
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 14
Cải cách
môi trường kinh doanh
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 13
Quản trị doanh nghiệp
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 12
Luật Đầu tư (chung)
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 11
Khu vực kinh tế tư nhân
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 10
Luật Doanh nghiệp
thống nhất
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 9
Ưu đãi đầu tư ở Việt Nam
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 8
Môi trường kinh doanh 2004
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 7
Dịch vụ
phát triển kinh doanh
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 6
Chính quyền địa phương
& Kinh tế tư nhân
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 5
Định giá
doanh nghiệp nhà nước
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 4
Trách nhiệm xã hội
của doanh nghiệp
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 3
Thương hiệu và nhãn hiệu
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 2
Thị trường cổ phiếu
:: Bài viết  :: Thảo luận

 

SỐ 1
Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi
:: Bài viết  :: Thảo luận

 

 

ƯU ĐÃI ĐẦU TƯ Ở VIỆT NAM:
THỜI ĐIỂM CHO NHỮNG THAY ĐỔI

Ưu đãi đầu tư (ƯĐĐT) là công cụ chính sách nhằm thu hút đầu tư hoặc định hướng đầu tư theo những mục tiêu phát triển nhất định. Có nhiều biện pháp ƯĐĐT khác nhau như miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), miễn giảm thuế nhập khẩu, trợ cấp tín dụng, trợ cấp đầu tư v.v… ƯĐĐT được áp dụng tương đối phổ biến trên thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Cũng như các nước khác trong khu vực, Việt Nam đã đưa ra nhiều ƯĐĐT hào phóng để thu hút đầu tư. Nhưng hệ thống ưĐĐT hiện tại đã tỏ ra có nhiều điểm yếu và hạn chế. Trong bối cảnh Việt Nam chuẩn bị gia nhập WTO và đang trong quá trình soạn thảo hai bộ luật quan trọng (Luật Đầu tư chung và Luật Doanh nghiệp thống nhất), thì đây là thời điểm thích hợp để nhìn nhận lại hệ thống ưu đãi hiện tại và đưa ra những thay đổi hướng tới một hệ thống hiệu quả và phù hợp hơn với yêu cầu hội nhập. Bản tin này đề cập đến hệ thống ƯĐĐT ở Việt Nam với những ý kiến nhận xét, đánh giá và đề xuất thay đổi từ các nhà làm chính sách, các chuyên gia và cộng đồng doanh nghiệp.

1. Hệ thống ƯĐĐT hiện tại ở Việt Nam vẫn còn phức tạp.

Có rất nhiều loại ƯĐĐT khác nhau, các ƯĐĐT lại được quy định rải rác trong các luật và các văn bản dưới luật khác nhau, gây khó khăn cho các cơ quan nhà nước trong công tác quản lý ƯĐĐT cũng như cho doanh nghiệp trong việc nhận biết và tiếp cận ƯĐĐT. Hơn nữa, có những loại ƯĐĐT được sử dụng nhằm đạt được đồng thời nhiều mục tiêu khác nhau và đôi khi còn xung đột lẫn nhau, ví dụ như vừa thu hút đầu tư lại vừa giải quyết công ăn việc làm, phát triển kinh tế địa phương, cân bằng giới và khuyến khích chuyển giao công nghệ. Sự phức tạp càng được nhân lên do các địa phương tiếp tục đưa ra các ưu đãi riêng của địa phương mình một cách tùy tiện để cạnh tranh thu hút đầu tư. Sự cạnh trạnh này thường dẫn đến tình trạng "đua đến kiệt sức" trong nội bộ một quốc gia .1

2. Tính hiệu quả của hệ thống ƯĐĐT thấp

Chính sách ƯĐĐT ở Việt Nam dường như chưa hiệu quả trong thu hút và khuyến khích các hoạt động đầu tư. Hiệu quả thấp phần lớn là do tình trạng ưu đãi thuế thừa - có nghĩa là có nhiều nhà đầu tư vẫn thực thi dự án dù không có ưu đãi thuế.2 Tỷ lệ ưu đãi thừa cao làm giảm một khoản thuế lớn lẽ ra có thể thu được. Trong một nghiên cứu gần đây của VNCI về tình hình sử dụng ƯĐĐT của doanh nghiệp Việt Nam, có hơn 80% doanh nghiệp tư nhân đang hưởng ưu đãi thuế thừa nhận rằng ưu đãi không hề tác động đến quyết định đầu tư của họ. Điều này cũng có nghĩa là tỷ lệ bao cấp đầu tư là 70% - để tạo thêm một khoản đầu tư 100.000 đồng bằng ưu đãi thuế, ta phải từ bỏ 70.000 đồng thuế. Nhìn từ góc độ tài chính công, một nghiên cứu bao quát hơn ước tính chi phí cho ƯĐĐT bằng thuế hàng năm vào khoảng 0.7% GDP.3

Một hệ thống ưu đãi cần được thiết kế và thực thi sao cho đạt được mục tiêu đặt ra với chi phí thấp. Nhìn từ góc độ này thì chưa có một đánh giá quy mô nào về hiệu quả của các hệ thống ƯĐĐT hiện tại ở Việt Nam. Rất có thể tác động thực sự của hệ thống ƯĐĐT hiện tại bị giới hạn vì quá phức tạp. Nhiều ƯĐĐT được sử dụng để đồng thời đạt được các mục tiêu khác nhau nên rất có thể có những ưu đãi triệt tiêu lẫn nhau. Ngoài ra, những ưu đãi thuế nhằm mục đích giải quyết các vấn đề xã hội (như tạo việc làm, đa dạng hóa thành phần lao động) cũng không thực sự có hiệu quả vì có thể khiến các doanh nghiệp áp dụng một cơ cấu lao động nào đó mà cơ cấu này lại giảm tính cạnh tranh của doanh nghiệp. Chính nghiên cứu của VNCI cũng chỉ ra rằng chỉ có rất ít doanh nghiệp trong nước đang đầu tư vào những vùng và ngành nghề trong danh mục được khuyến khích, và hầu hết các nhà đầu tư đang hưởng ưu đãi thuế là những doanh nghiệp lớn.4

3. Còn nhiều bất cập trong quản lý hành chính ƯĐĐT

Nghiên cứu của VNCI cũng cho thấy công tác quản lý hành chính ƯĐĐT vẫn còn nhiều bất cập.5 Đó là: (i) cấp/quản lý hành chính ƯĐĐT còn mang nặng tính chủ quan do thiếu những quy định rõ ràng; (ii) các doanh nghiệp khó xác định được mình có đủ tiêu chuẩn được hưởng ƯĐĐT hay không; (iii) có hiện tượng các doanh nghiệp lợi dụng chính sách ƯĐĐT để thu được các khoản lợi thuế không chính đáng; và (iv) còn tồn tại kẽ hở cho các hành vi cơ hội, tham nhũng do chính sách thiếu minh bạch. Nguyên nhân của những vấn đề trên một phần là do các nhà đầu tư phải xin giấy chứng nhận ưu đãi từ một cơ quan có thẩm quyền chứ không phải cứ đáp ứng các điều kiện đặt ra là nghiễm nhiên được nhận ƯĐĐT. Ngoài ra còn có những bất cập do việc các địa phương đua nhau đưa ra những ưu đãi vượt quá thẩm quyền và trái với các quy định chung của Nhà nước.

4. Các nguyên tắc chống phân biệt đối xử và cam kết WTO cần được xem xét

Hiện tại đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài vẫn được điều chỉnh bởi hai luật riêng. Điều này dẫn đến tình trạng có sự đối xử khác nhau đối với hai khu vực. Ví dụ, tính trung bình, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chịu thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) thấp hơn các doanh nghiệp trong nước. Tuy nhiên, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong nhiều trường hợp lại phải trả một số chi phí đầu vào với giá cao hơn (như điện, nước).

Còn có những thiên vị đối với các doanh nghiệp nhà nước trong cơ hội tiếp cận nguồn vốn của Nhà nước cũng như các dự án lớn. Những bất bình đẳng khác còn tồn tại như ƯĐĐT thiên lệch về các đầu tư mới so với các đầu tư mở rộng; chênh lệch lớn về ƯĐĐT giữa các doanh nghiệp trong và ngoài khu chế xuất v.v. Những ƯĐĐT hiện hành nào không phù hợp với WTO (như những yêu cầu về tỷ lệ nội địa hóa, yêu cầu liên quan đến xuất khẩu) cần phải được thay đổi hoặc bãi bỏ để đáp ứng những đòi hỏi của việc gia nhập tổ chức này.

5. Hệ thống ƯĐĐT cần được thiết kế lại thay vì tiếp tục sửa đổi.

Một hệ thống ưu đãi hiệu quả phải đạt được mục tiêu tăng đầu tư với chi phí thấp. Điều này đòi hỏi hệ thống đó phải: (i) mang tính chọn lọc; (ii) qui định rõ ràng, tránh được những đánh giá, xem xét mang tính chủ quan khi thực hiện; (iii) đơn giản; và (iv) bình đẳng, minh bạch.6 Quan trọng hơn cả, hệ thống ƯĐĐT hiệu quả phải dựa trên cơ sở kết quả hoạt động chứ không dựa trên kế hoạch hay đề xuất. Nhìn chung, hệ thống hiện tại ở Việt Nam không đạt được những tiêu chuẩn trên. Trong bối cảnh Luật đầu tư chung đang được soạn thảo, Việt Nam nên xem xét việc thiết kế lại một hệ thống ưu đãi hoàn toàn mới phù hợp với thông lệ quốc tế thay vì tiếp tục điều chỉnh và sửa đổi.

Cuối cùng, cũng phải thấy rằng để thu hút được đầu tư không chỉ cần riêng hệ thống ƯĐĐT. Cơ sở hạ tầng, khả năng tiếp cận thị trường, môi trường kinh tế vĩ mô và môi trường kinh doanh ổn định, quyền sở hữu tài sản rõ ràng, khung pháp luật hợp đồng minh bạch, thái độ thân thiện của chính quyền đối với doanh nghiệp, v.v vẫn được các nhà đầu tư đánh giá là những nhân tố quyết định quan trọng đến hoạt động đầu tư.


(1) Bộ phận Dịch vụ Tư vấn Đầu tư Nước ngoài (FIAS), Sử dụng ưu đãi thuế để thu hút đầu tư nước ngoài, Tạp chí Chính sách công, Ngân hàng Thế giới, 02/2003.
(2) Dự án "Sáng kiến Cạnh tranh Việt Nam", Nghiên cứu thực nghiệm về ưu đãi đầu tư bằng thuế TNDN cho các doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam, 10/2004 <www.vnci.org>
(3) Kevin Fletcher, Ưu đãi thuế ở Căm Pu Chia, Lào, và Việt Nam. Bài viết chuẩn bị cho hội thảo IMF về đầu tư nước ngoài, Hà Nội, 16-17/08/2002
(4) VNCI, như trên.
(5) VNCI, như trên.
(6) FIAS/MPDF, 'Ưu Đãi Đầu Tư và Bảo Đảm Đầu Tư ở Việt Nam: Cơ hội áp dụng thay đổi có lợi cho đầu tư', 11/ 2004.

Tổ chức và thực hiện: Ban biên tập Trung tâm Thông tin Kinh tế
Địa chỉ: tầng 5, Trung tâm Thương mại Quốc tế, Số 9 Đào Duy Anh, Hà Nội
ĐT: (84-4) 574 3084 - Fax: (84-4) 574 2773 - E-mail: vcci@hn.vnn.vn