|

|
|
|
NHÌN LẠI
MÔI TRƯỜNG KINH DOANH VIỆT NAM NĂM 2004
Với chủ
trương phát huy tối đa nội lực để phát triển kinh tế-xã hội và nâng
cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, chủ động hội nhập quốc tế,
trong năm 2004 Chính phủ Việt Nam đã không ngừng cố gắng cải thiện
môi trường kinh doanh và đã đạt được những kết quả đáng khích lệ.
Điều này thể hiện qua một số tín hiệu khả quan như tổng vốn đầu tư
nước ngoài năm 2004 dự kiến sẽ là 4 tỷ USD, đứng thứ ba trong khu
vực, chỉ thấp hơn Singapore, Malaysia và tương đương với Thái Lan.1
Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có những tín hiệu đáng lo ngại như chỉ số
năng lực cạnh tranh tăng trưởng (Growth Competitiveness Index - GCI)
của Việt Nam tụt 17 bậc và là mức tụt hạng mạnh nhất trong tất cả
các nền kinh tế được xếp hạng so với năm 2003.2 Điều này gợi lên suy
nghĩ rằng phải chăng Việt Nam tuy đạt được nhiều cải thiện về môi
trường kinh doanh, song vẫn chưa đủ để duy trì và nâng cao sức cạnh
tranh của nền kinh tế.
Bản tin cuối năm này đề cập tới một số yếu tố cản trở đến sự phát
triển môi trường kinh doanh ở Việt Nam như hạn chế của hệ thống pháp
luật, thủ tục hành chính nặng nề, nạn tham nhũng và chi phí đầu vào
cao, với hy vọng là các nhà quản lý và lập pháp Việt Nam có thêm
thông tin để tập trung cải thiện môi trường kinh doanh trong năm tới.
Hệ thống
pháp luật yếu kém vẫn còn là một cản trở lớn
Theo Điều tra về Cảm nhận
của Doanh nghiệp năm 2004 do Diễn đàn Doanh Nghiệp Việt Nam3
thực hiện, các doanh nghiệp được phỏng vấn vẫn chưa hài lòng với môi
trường pháp lý và chính sách hiện tại, với điểm trung bình là 2,09
trên thang điểm tối đa là 4, thể hiện mức nói chung không hài lòng.
Hệ thống pháp luật và chính sách về kinh doanh hiện nay còn nhiều
mâu thuẫn và thiếu đồng bộ. Mâu thuẫn không chỉ tồn tại trong bản
thân các luật và chính sách mà còn xuất hiện thêm khi các luật và
chính sách mới ra đời tồn tại song song với các văn bản cũ.
Việc thực thi pháp luật là một khâu yếu nhất trong hệ thống pháp
luật của Việt Nam. Cũng trong điều tra nói trên của Diễn đàn Doanh
nghiệp Việt nam, các doanh nghiệp đã bày tỏ mức độ hài lòng với việc
thực thi luật pháp chỉ ở mức điểm trung bình là 1,85 trên thang điểm
4. Ví dụ, chế tài thực thi các quy định bảo đảm hiệu lực hợp đồng
của Việt Nam là một chế tài được coi là kém hiệu quả nhất trong khu
vực. Thời gian trung bình để giải quyết tranh chấp hợp đồng ở Việt
Nam là 404 ngày với 37 thủ tục và chi phí lên đến 30% GDP trên đầu
người- trong khi đó số liệu tương ứng ở Thái Lan là 390 ngày, 26 thủ
tục và chi phí ở mức 13,4%.4
Hệ thống
hành chính nặng nề, làm tăng chi phí cho doanh nghiệp
Trong năm qua, đã có nhiều
tiến bộ trong lĩnh vực cải cách hành chính công, một ví dụ cụ thể là
cho đến tháng 10 năm 2004, mô hình Một cửa-Một dấu đã được triển
khai ở 40% các tỉnh, 86% các huyện và 12% các xã.5 Tuy
nhiên, các thủ tục hành chính công vẫn được coi là một trong những
yếu tố ảnh hưởng chính tới môi trường kinh doanh và những vấn đề
thường được nhắc đến nhiều nhất là:6
(i) Thủ tục hành chính cho kinh doanh còn quá nhiều, có thủ tục
không cần thiết
(ii) Sự can thiệp hành chính thái quá và tuỳ tiện của các cơ quan
nhà nước vào hoạt động sản xuất kinh doanh
(iii) Tình trạng cán bộ nhà nước sách nhiễu và gây khó khăn cho
doanh nghiệp chưa giảm
(iv) Sự thiếu minh bạch và thiếu trách nhiệm giải trình của các cơ
quan hành chính
Một ví dụ cụ thể là việc đăng ký kinh doanh, mặc dù đã có rất nhiều
cải thiện kể từ khi có Luật Doanh nghiệp, nhưng hiện nay để đăng ký
kinh doanh ở Việt Nam, doanh nghiệp vẫn cần phải chờ 56 ngày để hoàn
thành 11 thủ tục với tổng chi phí chiếm khoảng 29% thu nhập bình
quân đầu người/năm. Cũng với công việc đó ở Singapore, doanh nghiệp
chỉ cần đợi 8 ngày, hoàn thành 7 thủ tục với chi phí chiếm khoảng 1%
thu nhập bình quân đầu người/năm.7
Tham
nhũng đe doạ sự ổn định xã hội và phát triển kinh tế
Các doanh nghiệp trả lời
điều tra về cảm nhận môi trường kinh doanh năm 2004 của Diễn đàn
Doanh nghiệp Việt Nam đều cho rằng đấu tranh chống tham nhũng là
hành động cấp bách nhất mà Chính phủ cần tiến hành trong năm tới.
Tham nhũng làm tăng chi phí kinh doanh và có thể làm méo mó các
chính sách phát triển kinh tế. Theo một điều tra gần đây của Ban Nội
chính Trung ương, kết quả sơ bộ cho thấy rằng tham nhũng đang lan
tràn ở những lĩnh vực như đầu tư cơ sở hạ tầng, quản lý đất đai,
thuế.8 Một loạt những vụ việc tham nhũng lớn ở các bộ
ngành và tổng công ty (như dầu khí, thương mại…) được phát hiện
trong năm qua một mặt thể hiện quyết tâm chống tham nhũng của Chính
phủ, mặt khác thể hiện mức độ trầm trọng và ảnh hưởng tiêu cực của
tệ nạn này tới nền kinh tế và môi trường kinh doanh.
Chi phí
đầu vào cao
Cộng đồng doanh nhân trong
và ngoài nước cho rằng cơ sở hạ tầng yếu kém, chi phí đầu vào sản
xuất cao đang làm ảnh hưởng nhiều tới khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp. Trong Diễn đàn Doanh nghiệp năm 2004, các doanh nghiệp đã
thảo luận nhiều về vấn đề này. Các chi phí đầu vào hiện đang còn cao
bao gồm chi phí vận tải, thuê văn phòng, đóng góp an sinh xã hội và
thiết bị sản xuất. Bảng dưới đây so sánh ba loại chi phí kinh doanh
tại Hà Nội và một số thành phố khác ở châu Á, qua đó cho thấy Việt
Nam có chi phí cao nhất so với các đối thủ cạnh tranh chính trong
khu vực.
| |
Hà Nội |
Bangkok |
Manila |
Jakarta |
Kuala Lumpur |
|
Thuê văn phòng (US$/m2/ tháng) |
25 |
11 |
7 |
18 |
14 |
|
Chi phí giao thông (US$/ công-ten-nơ 40 feet tới t/p
Yokohama, Nhật Bản) |
1.300 |
1.200 |
850 |
990 |
575 |
|
Chi phí đóng góp của chủ doanh nghiệp tính trên lương
tháng (lương hưu, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp...
- % lương tháng) |
17 |
4 |
6.21 |
7.24 |
12 |
Nguồn: JETRO: "So sánh chi phí đầu tư tại các thành phố châu Á”,
tháng 3 năm 2004
(1) VN Express 16 tháng 11 năm 2004,
phỏng vấn ông Nguyễn Anh Tuấn, Cục phó Cục Đầu tư Nước Ngoài, Bộ Kế
hoạch Đầu tư
(2) Diễn Đàn Kinh tế Thế giới, Báo cáo cạnh tranh toàn cầu 2004
(3) Một sáng kiến của Công ty Tài chính Quốc tế (IFC) với sự cộng
tác của Ngân hàng Thế giới và Bộ Kế hoạch Đầu tư
(4) Số liệu được lấy từ báo cáo “Doing Business 2005” của Ngân hàng
Thế giới
(5) Báo cáo chung của của Các nhà Tài trợ tại Hội nghị Tư vấn 2004,
"Báo cáo Phát triển Việt Nam 2005: Quản lý Nhà nước"
(6) Thông tin chuyên đề " Đổi mới chức năng, nhiệm vụ và phương
hướng hoạt động của Nhà nước và của Nền hành chính đáp ứng yêu cầu
phát triển đất nước, gia nhập và là thành viên WTO", CIEM tháng 2
năm 2004
(7) Số liệu được lấy từ báo cáo “Doing Business 2005” của Ngân hàng
Thế giới
(8) Báo cáo chung của của Các nhà Tài trợ tại Hội nghị Tư vấn 2004. |