-
Cần
hiểu rằng không phải là ưu đãi đầu tư, cũng không phải là vị trí
địa lý hay cơ sở hạ tầng làm nên sự khác biệt trong phát triển
kinh tế giữa các tỉnh. Thành công phát triển kinh tế của một số
tỉnh chính là nhờ tính năng động, tính sáng tạo trong quản lý
kinh tế của chính quyền địa phương. Điều quan trọng là những địa
phương khác cần hiểu rằng họ cũng có thể làm được như vậy và tôi
muốn phân tích rõ hơn về vấn đề làm như thế nào.
Có thể tạm phân hệ thống các văn bản pháp quy của Việt Nam, bao
gồm luật và các văn bản dưới luật, thành 3 tập. Tập thứ nhất là
những văn bản đã rất rõ ràng, dễ thực thi và về căn bản là thuận
lợi cho doanh nghiệp. Ví dụ như quy định của Luật Doanh nghiệp
về đăng ký kinh doanh – việc thực thi đăng ký kinh doanh hầu như
không khác nhiều so với quy định của luật và cũng không có sự
khác biệt nhiều giữa các địa phương. Nhưng tiếc rằng tập này
không nhiều.
Tập thứ hai là những văn bản sai lạc, đã lạc hậu hoặc còn thiếu,
không theo kịp với tình hình thực tế. Ví dụ như vấn đề phát
triển hạ tầng với sự tham gia của tư nhân – hiện nay Nhà nước
chưa có công cụ điều tiết phù hợp, do vậy chính quyền địa phương
cần rất chủ động trong vấn đề này.
Tập thứ ba là tập đại đa số, bao gồm những văn bản pháp lý không
rõ ràng, phức tạp, khó thực thi và nếu thực thi nghiêm túc một
cách chính thống thì rất tốn kém. Đây là lĩnh vực đòi hỏi các
địa phương phải có sáng tạo khi thực thi – cơ chế "một cửa" mà
các tỉnh như Bình Dương hay Đà Nẵng đang thực hiện là ví dụ minh
họa cho sự sáng tạo này. Nhưng việc thực thi được những sáng tạo
này đòi hỏi sự thống nhất ở địa phương từ các lãnh đạo cao nhất
bao gồm Chủ tịch UBND, Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND xuống các
cấp trung gian và cơ sở như sở, huyện, xã. Lấy ví dụ cụ thể là
vấn đề cấp và cho thuê đất. Nếu theo hệ thống các văn bản quy
định chính thống, doanh nghiệp buộc phải có được sự đồng ý từ
các cấp thôn, xã, huyện, sở tài nguyên môi trường, sở tài chính,
ban chỉ huy quân sự địa phương và rất nhiều các cơ quan ngành
liên quan tùy theo lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp. Nhưng hệ
thống văn bản hiện hành không quy định cụ thể trách nhiệm, thời
gian mà các cơ quan cấp trung gian này phải phản hồi nên doanh
nghiệp có thể mất rất nhiều thời gian, chi phí trong khâu này.
Tỉnh Bình Dương đã giải quyết vấn đề này bằng cách thành lập Hội
đồng Tư vấn Đầu tư mà thành viên chủ chốt là đại diện của tất cả
các cơ quan liên quan. Để xem xét phê duyệt cấp hay cho doanh
nghiệp thuê đất, Hội đồng Tư vấn Đầu tư chỉ cần triệu tập một
cuộc họp là có thể thống nhất được ý kiến từ tất cả các cơ quan
liên quan. Vấn đề là khi làm như vậy, lãnh đạo tỉnh thường gặp
sự phản đối từ nhiều cơ quan liên quan và các cấp dưới mà nguyên
nhân là những công chức cấp dưới này sợ bị mất quyền lợi – điều
này là dễ hiểu vì chế độ lương và phụ cấp cho công chức hiện nay
là quá thấp. Để giải quyết gốc rễ vấn đề này là phải tìm ra được
cơ chế tài chính bù đắp được việc mất đi những quyền lợi tài
chính không chính thức này.
Ông Nguyễn Đình Cung, Trưởng Ban Kinh tế Vĩ mô,
Viện Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM)
-
Các
công việc nghiên cứu và tư vấn gần đây của tôi về môi trường
kinh doanh các tỉnh đều cho thấy rằng yếu tố quan trọng nhất
giải thích cho sự tăng trưởng kinh tế của mỗi tỉnh là tính tích
cực và năng động của chính quyền địa phương. Nó không chỉ đơn
thuần là việc thực thi linh hoạt chính sách của Trung ương hay
cố gắng tạo thuận lợi, giảm chi phí giao dịch cho doanh nghiệp.
Về mặt gốc rễ, tính năng động của địa phương chính là thái độ
của chính quyền đối với việc phát triển kinh tế tư nhân.
Tính năng động của địa phương thể hiện qua hai khía cạnh. Thứ
nhất, các cơ quan cấp tỉnh phối hợp làm việc với nhau như thế
nào để tạo điều kiện cho hoạt động của doanh nghiệp? Thường thì
ở các tỉnh tăng trưởng tốt, các doanh nghiệp có thể tin rằng
những quyết định của một sở liên quan tới hoạt động của họ sẽ
không bị ủy ban Nhân dân tỉnh giữa chừng thay đổi lại. Doanh
nghiệp cũng có thể tin tưởng rằng các cấp chính quyền ở huyện và
xã sẽ không gây khó khăn trong quá trình thực hiện dự án khi đã
được cấp tỉnh phê duyệt.
Thứ hai, các địa phương năng động thường chủ động thay mặt cho
khối doanh nghiệp giải quyết các vướng mắc không rõ ràng về văn
bản luật pháp. Sự mập mờ trong văn bản pháp lý là một phần bình
thường của môi trường kinh doanh ở Việt Nam, có thể là do ngôn
từ trong văn bản không rõ ràng, chậm chễ trong việc ban hành các
văn bản hướng dẫn thi hành luật hay sự mâu thuẫn giữa các văn
bản pháp lý khác nhau. Khi các hoạt động kinh doanh bị gián đoạn
do sự mập mờ trong văn bản pháp lý, quyết định của chính quyền
địa phương có thể tạo ra một sự khác biệt lớn, ảnh hưởng trực
tiếp tới sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Nhiều tỉnh
bắt các doanh nghiệp chờ đợi cho đến khi sự mập mờ này được giải
thích bằng các văn bản hướng dẫn cụ thể hay chỉ thị từ chính
quyền trung ương, làm cho doanh nghiệp tốn kém nhiều thời gian
và tiền bạc. Một số tỉnh thậm chí còn lạm dụng sự mập mờ này để
cản trở các doanh nghiệp khác có tiềm năng cạnh tranh với các
doanh nghiệp trong tỉnh mình. Những tỉnh thực sự thành công là
các tỉnh cùng hợp tác với doanh nghiệp tìm ra giải pháp trong
một môi trường pháp lý không rõ ràng bằng cánh cho phép thực thi
thí điểm ở cấp tỉnh trong khi chờ được giải thích rõ ràng hơn.
Những giải pháp thí điểm này giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời
gian và chi phí và sau đó thường là được thể chế hóa trong các
văn bản pháp lý khi mà các trường hợp thí điểm đã chứng minh
được thành công qua thực tế. Chính sách "một cửa, một dấu" là
một minh họa điển hình cho điều này.
Tiến sỹ Edmund J. Malesky,
Giảng viên Học viện Quan hệ Quốc tế
Weatherland,
Trường Đại học Tổng hợp Harvard
>> Xem thêm
|