TRUNG TÂM THÔNG TIN KINH TẾ - PHÒNG THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Số 3 (6) Tháng 8/2004

   

Giới thiệu
 

Đăng ký và phản hồi
 

SỐ 22
Tiếp cận đất đai
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 21
Tổng công ty đầu tư và
kinh doanh vốn nhà nước
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 20
Đơn giản hoá thủ tục
thành lập doanh nghiệp
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 19
Hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 18
Thành lập doanh nghiệp
ở Việt Nam
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 17
Đơn giản hóa hệ thống
giấy phép kinh doanh
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 16
Hỗ trợ doanh nhân nữ
phát triển
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 15
Trung tâm thông tin
tín dụng tư nhân
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 14
Cải cách
môi trường kinh doanh
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 13
Quản trị doanh nghiệp
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 12
Luật Đầu tư (chung)
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 11
Khu vực kinh tế tư nhân
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 10
Luật Doanh nghiệp
thống nhất
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 9
Ưu đãi đầu tư ở Việt Nam
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 8
Môi trường kinh doanh 2004
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 7
Dịch vụ
phát triển kinh doanh
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 6
Chính quyền địa phương
& Kinh tế tư nhân
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 5
Định giá
doanh nghiệp nhà nước
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 4
Trách nhiệm xã hội
của doanh nghiệp
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 3
Thương hiệu và nhãn hiệu
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 2
Thị trường cổ phiếu
:: Bài viết  :: Thảo luận

 

SỐ 1
Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi
:: Bài viết  :: Thảo luận

 

 

VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
đối với sự phát triển của kinh tế tư nhân

Trong những năm gần đây, một số nhà tài trợ và cơ quan nhà nước hoạt động trong lĩnh vực phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam đã tiến hành nhiều nghiên cứu nhằm xác định và đánh giá những yếu tố thúc đẩy hay kìm hãm tăng trưởng kinh tế địa phương. Các nghiên cứu đã cho thấy có sự khác biệt lớn về môi trường kinh doanh và chênh lệch về mức độ tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là kinh tế tư nhân, giữa các tỉnh và khu vực khác nhau trong nước. Sự chênh lệch này một phần là do các địa phương khác nhau có những điều kiện khác nhau về cơ sở hạ tầng, khả năng tiếp cận thị trường, nguồn tài chính và nguồn nhân lực. Tuy nhiên, kết quả của những nghiên cứu này đều cho thấy chính quyền và môi trường pháp lý của từng địa phương mới là yếu tố quan trọng dẫn đến sực khác biệt.
Bản tin này tóm tắt về sự khác biệt trong phát triển kinh tế giữa các tỉnh và thành phố được khảo sát trong các nghiên cứu gần đây; Từ đó phân tích vai trò ảnh hưởng của các yếu tố quản lý nhà nước và môi trường pháp lý ở cấp địa phương. Hiểu biết về sự khác biệt này sẽ hỗ trợ cho các chính quyền địa phương trong việc tạo một môi trường kinh doanh tốt hơn để phát triển kinh tế cho địa phương mình.1

Giữa các địa phương có sự chênh lệch lớn về tăng trưởng kinh tế.

Kể từ khi có chính sách đổi mới kinh tế, có những tỉnh và thành phố bắt đầu phát triển rất nhanh, trong khi đó lại có những tỉnh, thành phố khác với các điều kiện tương tự về vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng nhưng phát triển chậm hơn nhiều và khoảng cách này có xu hướng ngày càng gia tăng. Ví dụ, mặc dù đều là các tỉnh nằm gần các thành phố lớn và hải cảng chính, có các điều kiện cơ sở hạ tầng, tiếp cận thị trường khá ngang bằng nhưng khoảng cách về tăng trưởng kinh tế giữa bốn tỉnh miền Nam (Đồng Nai, Bình Dương, Long An và Bà Rịa - Vũng Tàu) so với bảy tỉnh miền Bắc (Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Tây, Bắc Ninh, Bắc Giang và Vĩnh Phúc), lại rất lớn. (Xem H.1)

Bảy tỉnh miền Bắc và Bốn tỉnh miền Nam: So sánh một số chỉ tiêu kinh tế

  7 tỉnh miền Bắc 4 tỉnh miền Nam
Dân số (triệu người)  10 5
Kim ngạch xuất khẩu tính theo bình quân đầu người $ 50 $ 785
Đầu tư nước ngoài (số thực hiện) tính theo bình quân đầu người $ 60 $ 570
Đầu tư theo luật Doanh nghiệp tính theo bình quân đầu người $ 84 $ 103

Biểu đồ (H.2) dưới đây tóm tắt các phát hiện của một nghiên cứu nhằm xây dựng chỉ số năng lực cạnh tranh để so sánh mức tăng trưởng kinh tế giữa các tỉnh. Chỉ số này dựa trên năm yếu tố căn bản là cơ sở hạ tầng, khoảng cách tới thị trường tiêu thụ, nguồn nhân lực, mức độ áp dụng công nghệ thông tin và khả năng cung cấp mặt bằng cho sản xuất – được thể hiện trên trục hoành của biểu đồ dưới đây.

Nguồn: (VNCI), Hội thảo trình bày Nghiên cứu Sáng kiến Phát triển Doanh nghiệp do USAID tài trợ, ngày 19 tháng 7 năm 2004

Một câu hỏi mà biểu đồ này đặt ra nguyên nhân nào khiến các tỉnh có khả năng cạnh tranh tương đối ngang bằng lại có mức độ tăng trưởng kinh tế khác nhau đến như vậy (ví dụ như giữa Bình Dương và Nghệ An)2. Các nghiên cứu này cho rằng chính quyền cũng như môi trường pháp lý của từng địa phương rất có thể là lý do tạo ra sự chênh lệch về mức độ tăng trưởng kinh tế và phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Cụ thể hơn, đó là các vấn đề như sau:

1. Các chính sách quản lý nguồn lực của chính quyền địa phương trực tiếp ảnh hưởng tới sức hút đầu tư của tỉnh

Các nghiên cứu đều cho thấy khả năng tiếp cận các nguồn lực cơ bản như đất đai, tín dụng và cơ sở hạ tầng như điện, nước, v.v… có ảnh hưởng lớn tới quyết định lựa chọn địa điểm đầu tư của doanh nghiệp. Ví dụ về đất đai, ở hầu hết các địa phương, có tới 70% doanh nghiệp được hỏi cho rằng nếu tiếp cận được đất cho sản xuất dễ dàng hơn thì họ sẽ có điều kiện mở rộng quy mô sản xuất. Nhưng một số tỉnh phía Bắc có xu hướng hạn chế chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp, khiến giá đất ở đó cao hơn hẳn một số các tỉnh khác ở phía Nam và nằm ngoài khả năng tiếp cận của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nhiều khi phải sử dụng đất ở vào mục đích kinh doanh, với chi phí còn cao hơn nhiều. Ví dụ như giá đất tại một khu đô thị mới của tỉnh Bắc Ninh, nằm cách Hà Nội 30 km với hệ thống giao thông tốt, lên tới 2.000 đô-la/m2, trong khi đó giá đất thổ cư tại Đồng Nai cách Thành Phố Hồ Chí Minh chưa tới 50 km chỉ là 10 đô-la/m2. Trong khi đó thu nhập trung bình đầu người ở Đồng Nai còn cao hơn nhiều so với Bắc Ninh. Sự khác biệt lớn này phần nào giải thích tại sao khu vực doanh nghiệp tại Bắc Ninh lại kém phát triển hơn so với Đồng Nai.

2. Độ minh bạch và tính trách nhiệm của bộ máy quản lý địa phương ảnh hưởng tới chi phí giao dịch của doanh nghiệp và niềm tin của nhà đầu tư

Nhiều doanh nghiệp còn phàn nàn về các thủ tục hành chính phức tạp gây tốn kém thời gian và tiền bạc, ví dụ như việc kiểm tra, thanh tra của các cán bộ công quyền địa phương, hay việc xin cấp phép, vay vốn, cấp đất, đã làm tăng chi phí giao dịch của doanh nghiệp. Giảm thiểu được các chi phí này rõ ràng sẽ giúp cho các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn.

Các cơ quan chức năng ở các địa phương hiện cũng chưa phát huy tốt vai trò để tạo ra một môi trường kinh doanh công bằng và đảm bảo các lợi ích cho doanh nghiệp. Thực tế cho thấy các doanh nghiệp ở các địa phương thường không thực hiện việc giải quyết tranh chấp thông qua các cơ quan chức năng như hệ thống tòa án tại địa phương. Lý do mà các doanh nghiệp đưa ra là vì thủ tục rườm rà, mất thời gian, hoặc vì họ không tin tưởng vào sự công bằng và tính hiệu lực của các phán quyết. Do vậy, nâng cao năng lực và trách nhiệm của các cơ quan chức năng địa phương sẽ tạo điều kiện cho khối doanh nghiệp có được một môi trường kinh doanh lành mạnh và đáng tin cậy hơn.

3. Tính năng động của chính quyền ở các địa phương có thể hỗ trợ doanh nghiệp phát triển

Khi một chính sách hay điều luật do Trung ương ban hành xuống địa phương còn chưa cụ thể hay rõ ràng, chính quyền ở địa phương có thể hành động theo những cách khác nhau: 1) Diễn giải và thực thi theo hướng có thể gây cản trở cho doanh nghiệp; hoặc 2) Không làm gì và chờ đợi sự thay đổi hay hướng dẫn từ trung ương; hoặc 3) Tìm cách diễn giải theo hướng thuận lợi nhất có thể được cho doanh nghiệp. Tính năng động của chính quyền địa phương ở một số tỉnh miền Nam (như TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Bình Dương, Đồng Nai, Long An) được các doanh nghiệp tư nhân đánh giá khá cao vì chính quyền ở đây thường diễn giải và áp dụng các chính sách của Nhà nước theo hướng thuận lợi nhất cho doanh nghiệp. Kết quả của tính năng động này là khối doanh nghiệp tư nhân tại các địa phương đó đã phát triển tương đối nhanh chóng. Trong khi đó, doanh nghiệp ở các tỉnh phía Bắc (như Hà Tây, Nam Định, Thanh Hóa) cho rằng chính quyền địa phương của họ thường có xu hướng thận trọng hơn nên khối doanh nghiệp tư nhân cũng kém phát triển hơn.

4. Sự bất bình đẳng với khối kinh tế quốc doanh làm khối doanh nghiệp tư nhân nản lòng và khó phát triển

Trong khi các cán bộ chính quyền tại một số địa phương (như Nam Định và Hà Tây) còn nhấn mạnh rằng khối doanh nghiệp nhà nước là động lực thúc đẩy cho sự phát triển của khối doanh nghiệp tư nhân, nhiều chủ doanh nghiệp tư nhân ở các địa phương đó lại cho rằng họ gặp phải sự cạnh tranh lớn từ khối các doanh nghiệp nhà nước được ưu đãi về các nguồn lực như đất đai, tín dụng cũng như các hợp đồng kinh tế của chính phủ. Nhìn từ phía doanh nghiệp, môi trường kinh doanh không bình đẳng này đang gây cản trở cho sự phát triển của khối kinh tế tư nhân. Trong khi đó, ở một số tỉnh phát triển hơn như Đồng Nai hay Long An đã có sự giảm thiểu đáng kể trong hỗ trợ cho khối doanh nghiệp nhà nước, điều này đã góp phần vào sự phát triển nhanh chóng của khối doanh nghiệp tư nhân tại địa phương.

5. Ưu đãi không phải là biện pháp tốt nhất để thu hút đầu tư

Một số địa phương đã thực hiện các chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt để cạnh tranh thu hút đầu tư. Mặt trái của những ưu đãi đầu tư này là chúng thường không bền vững và thiếu nhất quán với chính sách chung của Nhà nước. Hơn nữa, chúng còn ảnh hưởng tiêu cực tới nguồn thu ngân sách của trung ương và địa phương. Do đó, những chính sách ưu đãi đầu tư của mỗi địa phương cần được sử dụng một cách thận trọng, có cân nhắc tới tính bền vững và hữu ích của từng chính sách.


(1) TS Edmund Malesky, Chuyên đề Phát triển Kinh tế tư nhân số 16 của MPDF "Doanh nghiệp tại các tỉnh lân cận" tháng 7 năm 2004; và nhóm các nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Cung, Phạm Anh Tuấn, Bùi Văn và Giáo sư David Dapice, "Lịch sử hay chính sách: tại sao các tỉnh phía Bắc không tăng trưởng nhanh hơn", tháng 5 năm 2004.
(2) Sáng kiến Năng lực Cạnh tranh Việt Nam (VNCI), hiện đang xây dựng các chỉ số cạnh tranh cho 46 tỉnh của Việt Nam, các chỉ số này sẽ được công bố đầu năm 2005. Đường mầu đỏ thể hiện mức tăng trưởng GDP dự đoán nếu chỉ dựa trên năm yếu tố chính nêu trên. Các điểm nằm phía trên đường này là những tỉnh tăng trưởng nhanh hơn mức dự đoán còn những điểm nằm phía dưới là các tỉnh tăng trưởng chậm hơn mức dự đoán.

Tổ chức và thực hiện: Ban biên tập Trung tâm Thông tin Kinh tế
Địa chỉ: tầng 5, Trung tâm Thương mại Quốc tế, Số 9 Đào Duy Anh, Hà Nội
ĐT: (84-4) 574 3084 - Fax: (84-4) 574 2773 - E-mail: vcci@hn.vnn.vn