|
VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
đối với sự phát triển của kinh tế tư nhân
Trong
những năm gần đây, một số nhà tài trợ và cơ quan nhà nước hoạt động
trong lĩnh vực phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam đã tiến hành
nhiều nghiên cứu nhằm xác định và đánh giá những yếu tố thúc đẩy hay
kìm hãm tăng trưởng kinh tế địa phương. Các nghiên cứu đã cho thấy
có sự khác biệt lớn về môi trường kinh doanh và chênh lệch về mức độ
tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là kinh tế tư nhân, giữa các tỉnh và
khu vực khác nhau trong nước. Sự chênh lệch này một phần là do các
địa phương khác nhau có những điều kiện khác nhau về cơ sở hạ tầng,
khả năng tiếp cận thị trường, nguồn tài chính và nguồn nhân lực. Tuy
nhiên, kết quả của những nghiên cứu này đều cho thấy chính quyền và
môi trường pháp lý của từng địa phương mới là yếu tố quan trọng dẫn
đến sực khác biệt.
Bản tin này tóm tắt về sự khác biệt trong phát triển kinh tế giữa
các tỉnh và thành phố được khảo sát trong các nghiên cứu gần đây; Từ
đó phân tích vai trò ảnh hưởng của các yếu tố quản lý nhà nước và
môi trường pháp lý ở cấp địa phương. Hiểu biết về sự khác biệt này
sẽ hỗ trợ cho các chính quyền địa phương trong việc tạo một môi
trường kinh doanh tốt hơn để phát triển kinh tế cho địa phương mình.1
Giữa các
địa phương có sự chênh lệch lớn về tăng trưởng kinh tế.
Kể từ khi có chính sách
đổi mới kinh tế, có những tỉnh và thành phố bắt đầu phát triển rất
nhanh, trong khi đó lại có những tỉnh, thành phố khác với các điều
kiện tương tự về vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng nhưng phát triển chậm
hơn nhiều và khoảng cách này có xu hướng ngày càng gia tăng. Ví dụ,
mặc dù đều là các tỉnh nằm gần các thành phố lớn và hải cảng chính,
có các điều kiện cơ sở hạ tầng, tiếp cận thị trường khá ngang bằng
nhưng khoảng cách về tăng trưởng kinh tế giữa bốn tỉnh miền Nam
(Đồng Nai, Bình Dương, Long An và Bà Rịa - Vũng Tàu) so với bảy tỉnh
miền Bắc (Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Tây, Bắc Ninh, Bắc
Giang và Vĩnh Phúc), lại rất lớn. (Xem H.1)
|
Bảy tỉnh miền Bắc và Bốn tỉnh miền Nam: So sánh một
số chỉ tiêu kinh tế |
| |
7 tỉnh miền Bắc |
4 tỉnh miền Nam |
|
Dân số
(triệu người) |
10 |
5 |
|
Kim
ngạch xuất khẩu tính theo bình quân đầu người
|
$ 50 |
$ 785 |
|
Đầu tư
nước ngoài (số thực hiện) tính theo bình quân đầu
người |
$ 60 |
$ 570 |
|
Đầu tư
theo luật Doanh nghiệp tính theo bình quân đầu người |
$ 84 |
$ 103 |
|
Biểu đồ (H.2) dưới đây tóm
tắt các phát hiện của một nghiên cứu nhằm xây dựng chỉ số năng lực
cạnh tranh để so sánh mức tăng trưởng kinh tế giữa các tỉnh. Chỉ số
này dựa trên năm yếu tố căn bản là cơ sở hạ tầng, khoảng cách tới
thị trường tiêu thụ, nguồn nhân lực, mức độ áp dụng công nghệ thông
tin và khả năng cung cấp mặt bằng cho sản xuất – được thể hiện trên
trục hoành của biểu đồ dưới đây.

Nguồn: (VNCI), Hội thảo trình bày Nghiên cứu Sáng kiến Phát
triển Doanh nghiệp do USAID tài trợ, ngày 19 tháng 7 năm
2004 |
Một câu hỏi mà biểu đồ này
đặt ra nguyên nhân nào khiến các tỉnh có khả năng cạnh tranh tương
đối ngang bằng lại có mức độ tăng trưởng kinh tế khác nhau đến như
vậy (ví dụ như giữa Bình Dương và Nghệ An)2. Các nghiên
cứu này cho rằng chính quyền cũng như môi trường pháp lý của từng
địa phương rất có thể là lý do tạo ra sự chênh lệch về mức độ tăng
trưởng kinh tế và phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Cụ thể
hơn, đó là các vấn đề như sau:
1. Các
chính sách quản lý nguồn lực của chính quyền địa phương trực tiếp
ảnh hưởng tới sức hút đầu tư của tỉnh
Các nghiên cứu đều cho
thấy khả năng tiếp cận các nguồn lực cơ bản như đất đai, tín dụng và
cơ sở hạ tầng như điện, nước, v.v… có ảnh hưởng lớn tới quyết định
lựa chọn địa điểm đầu tư của doanh nghiệp. Ví dụ về đất đai, ở hầu
hết các địa phương, có tới 70% doanh nghiệp được hỏi cho rằng nếu
tiếp cận được đất cho sản xuất dễ dàng hơn thì họ sẽ có điều kiện mở
rộng quy mô sản xuất. Nhưng một số tỉnh phía Bắc có xu hướng hạn chế
chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp, khiến giá đất ở
đó cao hơn hẳn một số các tỉnh khác ở phía Nam và nằm ngoài khả năng
tiếp cận của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nhiều khi phải sử dụng đất ở
vào mục đích kinh doanh, với chi phí còn cao hơn nhiều. Ví dụ như
giá đất tại một khu đô thị mới của tỉnh Bắc Ninh, nằm cách Hà Nội 30
km với hệ thống giao thông tốt, lên tới 2.000 đô-la/m2, trong khi đó
giá đất thổ cư tại Đồng Nai cách Thành Phố Hồ Chí Minh chưa tới 50
km chỉ là 10 đô-la/m2. Trong khi đó thu nhập trung bình đầu người ở
Đồng Nai còn cao hơn nhiều so với Bắc Ninh. Sự khác biệt lớn này
phần nào giải thích tại sao khu vực doanh nghiệp tại Bắc Ninh lại
kém phát triển hơn so với Đồng Nai.
2. Độ
minh bạch và tính trách nhiệm của bộ máy quản lý địa phương ảnh
hưởng tới chi phí giao dịch của doanh nghiệp và niềm tin của nhà đầu
tư
Nhiều doanh nghiệp còn
phàn nàn về các thủ tục hành chính phức tạp gây tốn kém thời gian và
tiền bạc, ví dụ như việc kiểm tra, thanh tra của các cán bộ công
quyền địa phương, hay việc xin cấp phép, vay vốn, cấp đất, đã làm
tăng chi phí giao dịch của doanh nghiệp. Giảm thiểu được các chi phí
này rõ ràng sẽ giúp cho các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn.
Các cơ quan chức năng ở các địa phương hiện cũng chưa phát huy tốt
vai trò để tạo ra một môi trường kinh doanh công bằng và đảm bảo các
lợi ích cho doanh nghiệp. Thực tế cho thấy các doanh nghiệp ở các
địa phương thường không thực hiện việc giải quyết tranh chấp thông
qua các cơ quan chức năng như hệ thống tòa án tại địa phương. Lý do
mà các doanh nghiệp đưa ra là vì thủ tục rườm rà, mất thời gian,
hoặc vì họ không tin tưởng vào sự công bằng và tính hiệu lực của các
phán quyết. Do vậy, nâng cao năng lực và trách nhiệm của các cơ quan
chức năng địa phương sẽ tạo điều kiện cho khối doanh nghiệp có được
một môi trường kinh doanh lành mạnh và đáng tin cậy hơn.
3. Tính
năng động của chính quyền ở các địa phương có thể hỗ trợ doanh
nghiệp phát triển
Khi một chính sách hay
điều luật do Trung ương ban hành xuống địa phương còn chưa cụ thể
hay rõ ràng, chính quyền ở địa phương có thể hành động theo những
cách khác nhau: 1) Diễn giải và thực thi theo hướng có thể gây cản
trở cho doanh nghiệp; hoặc 2) Không làm gì và chờ đợi sự thay đổi
hay hướng dẫn từ trung ương; hoặc 3) Tìm cách diễn giải theo hướng
thuận lợi nhất có thể được cho doanh nghiệp. Tính năng động của
chính quyền địa phương ở một số tỉnh miền Nam (như TP. Hồ Chí Minh,
Đà Nẵng, Bình Dương, Đồng Nai, Long An) được các doanh nghiệp tư
nhân đánh giá khá cao vì chính quyền ở đây thường diễn giải và áp
dụng các chính sách của Nhà nước theo hướng thuận lợi nhất cho doanh
nghiệp. Kết quả của tính năng động này là khối doanh nghiệp tư nhân
tại các địa phương đó đã phát triển tương đối nhanh chóng. Trong khi
đó, doanh nghiệp ở các tỉnh phía Bắc (như Hà Tây, Nam Định, Thanh
Hóa) cho rằng chính quyền địa phương của họ thường có xu hướng thận
trọng hơn nên khối doanh nghiệp tư nhân cũng kém phát triển hơn.
4. Sự
bất bình đẳng với khối kinh tế quốc doanh làm khối doanh nghiệp tư
nhân nản lòng và khó phát triển
Trong khi các cán bộ chính
quyền tại một số địa phương (như Nam Định và Hà Tây) còn nhấn mạnh
rằng khối doanh nghiệp nhà nước là động lực thúc đẩy cho sự phát
triển của khối doanh nghiệp tư nhân, nhiều chủ doanh nghiệp tư nhân
ở các địa phương đó lại cho rằng họ gặp phải sự cạnh tranh lớn từ
khối các doanh nghiệp nhà nước được ưu đãi về các nguồn lực như đất
đai, tín dụng cũng như các hợp đồng kinh tế của chính phủ. Nhìn từ
phía doanh nghiệp, môi trường kinh doanh không bình đẳng này đang
gây cản trở cho sự phát triển của khối kinh tế tư nhân. Trong khi
đó, ở một số tỉnh phát triển hơn như Đồng Nai hay Long An đã có sự
giảm thiểu đáng kể trong hỗ trợ cho khối doanh nghiệp nhà nước, điều
này đã góp phần vào sự phát triển nhanh chóng của khối doanh nghiệp
tư nhân tại địa phương.
5. Ưu
đãi không phải là biện pháp tốt nhất để thu hút đầu tư
Một số địa phương đã thực
hiện các chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt để cạnh tranh thu hút đầu
tư. Mặt trái của những ưu đãi đầu tư này là chúng thường không bền
vững và thiếu nhất quán với chính sách chung của Nhà nước. Hơn nữa,
chúng còn ảnh hưởng tiêu cực tới nguồn thu ngân sách của trung ương
và địa phương. Do đó, những chính sách ưu đãi đầu tư của mỗi địa
phương cần được sử dụng một cách thận trọng, có cân nhắc tới tính
bền vững và hữu ích của từng chính sách.
(1) TS Edmund Malesky, Chuyên đề Phát
triển Kinh tế tư nhân số 16 của MPDF "Doanh nghiệp tại các tỉnh lân
cận" tháng 7 năm 2004; và nhóm các nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Cung,
Phạm Anh Tuấn, Bùi Văn và Giáo sư David Dapice, "Lịch sử hay chính
sách: tại sao các tỉnh phía Bắc không tăng trưởng nhanh hơn", tháng
5 năm 2004.
(2) Sáng kiến Năng lực Cạnh tranh Việt Nam (VNCI), hiện đang xây
dựng các chỉ số cạnh tranh cho 46 tỉnh của Việt Nam, các chỉ số này
sẽ được công bố đầu năm 2005. Đường mầu đỏ thể hiện mức tăng trưởng
GDP dự đoán nếu chỉ dựa trên năm yếu tố chính nêu trên. Các điểm nằm
phía trên đường này là những tỉnh tăng trưởng nhanh hơn mức dự đoán
còn những điểm nằm phía dưới là các tỉnh tăng trưởng chậm hơn mức dự
đoán. |