|
ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
Vấn đề khúc mắc chính trong cổ phần hóa
Chương
trình cải cách các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã bắt đầu được hơn
10 năm; tuy nhiên, trong những năm gần đây, việc đẩy nhanh tiến
trình này đã trở thành một nhiệm vụ cấp thiết nhằm tăng năng lực
cạnh tranh của các DNNN vì việc gia nhập WTO đang đến gần. Mặc dù
Chính phủ đã có biện pháp và chính sách mạnh mẽ hơn trong việc sắp
xếp, đổi mới DNNN, việc thực hiện cải cách DNNN vẫn bị chậm hơn so
với mục tiêu đặt ra.1 Một trong những nguyên nhân chính
của tình trạng này là khó khăn mà các nhà quản lý cũng như bản thân
các DNNN đã và đang gặp phải trong việc định giá để cổ phần hoá. Bản
tin này đề cập tới các vấn đề xoay quanh việc định giá DNNN, bao gồm
các vấn đề về khung pháp lý, triển khai trên thực tiễn và so sánh
với các tập quán quốc tế phổ biến nhằm đưa ra một số đề xuất để đẩy
nhanh quá trình cải cách này.
Hạn chế
của những cơ chế và phương pháp định giá hiện hành
Theo quy định hiện hành,
có hai cơ chế định giá được phép áp dụng là thành lập Hội đồng định
giá hoặc thuê công ty tư vấn định giá độc lập.2 Thành
viên của Hội đồng định giá là cán bộ đại diện của nhiều cơ quan quản
lý Nhà nước khác nhau, ví dụ như Sở Tài chính, Sở KH-CN, Uỷ ban Nhân
dân v.v., vì thế ý kiến đánh giá của họ không phải bao giờ cũng
thống nhất và có thể bị nghiêng về những mục tiêu quản lý riêng. Do
đó, định giá theo cơ chế này thường không phản ánh được giá trị
"thực tế" của DNNN. Hơn nữa, mâu thuẫn về quyền lợi giữa DNNN với
các cơ quan quản lý nhiều khi làm cho việc định giá chậm được thống
nhất. Việc sử dụng công ty tư vấn độc lập để định giá tuy tỏ ra có
hiệu quả hơn nhưng vẫn còn những hạn chế trong việc xác định giá trị
tài sản vô hình như thương hiệu hay lợi thế kinh doanh. Hơn nữa, hầu
hết các công ty tư vấn độc lập của Việt Nam vẫn chưa đủ kinh nghiệm
và trình độ để định giá các DNNN lớn và phức tạp.
Về mặt kỹ thuật, tuy trên
thế giới có nhiều phương pháp định giá nhưng theo quy định của Bộ
Tài chính chỉ có hai phương pháp định giá được phép áp dụng là (1)
tài sản ròng và (2) dòng tiền chiết khấu.3 Hai phương
pháp này được quy định kèm theo các công thức tính toán cố định.
Điều này hạn chế việc tìm kiếm và áp dụng những phương pháp định giá
phù hợp hơn.
Tranh
luận quanh vấn đề tính giá trị quyền sử dụng đất (QSDĐ) khi định giá
QSDĐ của nhiều DNNN tính
theo giá thị trường là rất lớn, thậm chí có thể còn lớn hơn cả giá
trị của tất cả các tài sản khác của doanh nghiệp. Nếu không tính đến
giá trị QSDĐ thì DNNN có thể bị định giá quá thấp. Vì vậy, Nhà nước
đã có chủ trương thực hiện tính giá trị QSDĐ khi định giá DNNN để cổ
phần hoá. Tuy nhiên, thực hiện chủ trương này trên thực tế còn rất
khó khăn do thiếu những quy định cụ thể, chưa có thị trường cũng như
các tổ chức định giá chuyên nghiệp.
Lãnh đạo các DNNN chuẩn bị
cổ phần hóa thường không đồng tình với chính sách tính giá trị QSDĐ
khi định giá để cổ phần hóa vì làm như vậy sẽ đẩy giá cổ phần của
các DNNN cổ phần hóa lên quá cao, làm cho họ bất lợi hơn các doanh
nghiệp khác và không hấp dẫn các nhà đầu tư tiềm năng. Các doanh
nghiệp nhà nước và tư nhân khác, theo Luật Đất đai sửa đổi, vẫn được
quyền lựa chọn hình thức thuê đất nên không phải tính giá trị QSDĐ
vào giá trị doanh nghiệp, do đó hấp dẫn các nhà đầu tư hơn.
Khó khăn
trong việc định giá tài sản vô hình
Một số DNNN lớn, hoạt động
tốt như Vinamilk, Bảo Minh, Vietcombank đã có kế hoạch cổ phần hoá
trong năm nay và những năm tới đây. Các DNNN này đều có thương hiệu
và tên tuổi nổi tiếng, tài sản vô hình có thể có giá trị không kém
tài sản hữu hình. Mặc dù Bộ Tài chính đã quy định công thức tính giá
trị lợi thế kinh doanh của các DNNN (dựa trên giá trị tài sản trên
sổ sách và tỷ lệ lợi nhuận bình quân của doanh nghiệp), các công
thức này khó áp dụng trên thực tế. Vấn đề này đặc biệt nghiêm trọng
đối với các DNNN lớn trong các ngành dịch vụ như bảo hiểm, ngân
hàng, tư vấn. Nhiều quan điểm cho rằng phương pháp định giá tốt nhất
trong những trường hợp này là đấu giá công khai. Song một số DNNN lo
ngại rằng đấu giá công khai sẽ chỉ thu hút các nhà đầu tư cá nhân
nhỏ lẻ chứ không giúp họ đạt được mục tiêu chính khi cổ phần hoá là
đem lại những định chế đầu tư chiến lược để đóng góp kinh nghiệm
quản lý và chiến lược kinh doanh cho doanh nghiệp. Vì thế, còn rất
nhiều tranh luận xung quanh việc tìm ra giải pháp định giá tài sản
vô hình phù hợp, đặc biệt là đối với các DNNN lớn.
Định giá
phần góp vốn của DNNN trong liên doanh
Nhiều DNNN có vốn góp tham
gia liên doanh (LD) đang gặp khó khăn trong việc xác định giá trị
phần vốn góp này khi cổ phần hoá. Trong nhiều trường hợp, DNNN góp
vốn bằng QSDĐ, và một số DNNN giờ đây thừa nhận rằng QSDĐ đó có thể
đã được định giá quá cao khi thành lập LD.
Một vấn đề khác là phần
lớn các LD đều phát sinh lỗ trong những năm đầu hoạt động, do vậy
nếu tính giá trị phần vốn góp tại thời điểm DNNN cổ phần hoá thì
phần vốn góp đó thường bị thấp hơn so với số liệu ban đầu khi thành
lập LD. Trong những trường hợp này, cơ quan tài chính không chấp
nhận xác định giá trị phần vốn góp LD theo sổ sách tại thời điểm cổ
phần hoá nhưng cũng chưa tìm ra được một giải pháp định giá nào hợp
lý. Hiện nay có rất nhiều DNNN có vốn góp LD với nước ngoài chưa thể
cổ phần hoá vì lý do này.
Một số
quy định khác về cổ phần hóa có thể gây cản trở cho việc định giá
Rất nhiều DNNN phàn nàn
rằng các quy định về xác định giá trị các khoản phải thu khó đòi của
Bộ Tài chính là quá cứng nhắc, ví dụ như chỉ được phép xoá nợ khi
chứng minh được con nợ đã chết hoặc phá sản. Do vậy, có những DNNN
buộc phải tính các khoản phải thu hầu như không có khả năng thu hồi
vào giá trị tài sản của doanh nghiệp để cổ phần hoá. Trong khi đó,
các ngân hàng thương mại quốc doanh cũng không xóa các khoản nợ đã
bị quá hạn hoặc treo cho những DNNN này. Kết quả là những DNNN đó có
thể bị định giá quá cao nên gặp rất nhiều khó khăn trong việc huy
động cổ đông.
Do các quy định hiện hành
về bán cổ phiếu giá ưu đãi cho công nhân, quy định lưu giữ cổ phiếu
ít nhất trong vòng 3 năm kể từ sau khi cổ phần hoá v.v., việc cổ
phần hóa nhiều DNNN cho đến nay đều mang tính "nội bộ", hầu như
không thu hút thêm được nhà đầu tư mới, số lượng cổ phần bán cho nhà
đầu tư ngoài DNNN chỉ chiếm khoảng 10%.4
(1) Tổng số DNNN được sắp xếp lại (bao
gồm cổ phần hoá, giao, bán, khoán, cho thuê, giải thể, phá sản)
trong hai năm 2002-2003 là 1.766, trong đó có 905 DNNN là được cổ
phần hóa, mới chỉ đạt 80% kế hoạch. Báo cáo sơ kết của Ban Chỉ đạo
Đổi mới và Phát triển DNNN tại Hội nghị sắp xếp, đổi mới DNNN toàn
quốc ngày 15-16 tháng 3 năm 2004
(2) Nghị định 64/CP ngày 19 tháng 6 năm 2002 và các văn bản hướng
dẫn có liên quan
(3) Thông tư số 79/2002/TT-BTC
(4) Báo cáo của Bộ Tài chính tại Hội nghị sắp xếp, đổi mới DNNN toàn
quốc ngày 15-16 tháng 3 năm 2004 |