TRUNG TÂM THÔNG TIN KINH TẾ - PHÒNG THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Chuyên đề tháng 02/04

   

Giới thiệu
 

Đăng ký và phản hồi
 

SỐ 22
Tiếp cận đất đai
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 21
Tổng công ty đầu tư và
kinh doanh vốn nhà nước
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 20
Đơn giản hoá thủ tục
thành lập doanh nghiệp
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 19
Hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 18
Thành lập doanh nghiệp
ở Việt Nam
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 17
Đơn giản hóa hệ thống
giấy phép kinh doanh
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 16
Hỗ trợ doanh nhân nữ
phát triển
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 15
Trung tâm thông tin
tín dụng tư nhân
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 14
Cải cách
môi trường kinh doanh
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 13
Quản trị doanh nghiệp
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 12
Luật Đầu tư (chung)
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 11
Khu vực kinh tế tư nhân
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 10
Luật Doanh nghiệp
thống nhất
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 9
Ưu đãi đầu tư ở Việt Nam
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 8
Môi trường kinh doanh 2004
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 7
Dịch vụ
phát triển kinh doanh
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 6
Chính quyền địa phương
& Kinh tế tư nhân
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 5
Định giá
doanh nghiệp nhà nước
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 4
Trách nhiệm xã hội
của doanh nghiệp
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 3
Thương hiệu và nhãn hiệu
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 2
Thị trường cổ phiếu
:: Bài viết  :: Thảo luận

 

SỐ 1
Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi
:: Bài viết  :: Thảo luận

 

 

THẢO LUẬN
 
Năng lực hạn chế của các cơ quan quản lý  

việc đăng ký và thực thi bảo hộ SHTT

 

  • Thời gian trung bình để cấp đăng ký nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam là 12 đến 15 tháng, nhiều doanh nghiệp phàn nàn như vậy là quá lâu, song theo tôi là khá nhanh chóng và hiệu quả. Lý do là Việt Nam đã tham gia và do đó cần phải tuân thủ hai thoả thuận quốc tế quan trọng về SHTT là Công ước Paris về Sở hữu công nghiệp và Thoả ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa. Hai hiệp định quốc tế đa phương này đòi hỏi phải có thời gian từ sáu đến chín tháng để xác định được các xung đột quyền giữa các đơn quốc tế, đơn quốc gia xin hưởng quyền ưu tiên công ước và đơn quốc gia bình thường, nên thời gian thực tế còn lại để xử lý đơn xin đăng ký chỉ là từ ba đến sáu tháng. ở các nước khác, ví dụ như Mỹ, thời gian đăng ký một nhãn hiệu hàng hóa là từ 12 đến 18 tháng. Trong trường hợp có các trở ngại phát sinh như xung đột quyền với các chủ thể khác, thời gian này có thể kéo dài đến hai, thậm chí năm năm. Tuy nhiên, cần thừa nhận rằng quy mô và năng lực của các cơ quan nhà nước hữu quan còn chưa đáp ứng được với nhu cầu của doanh nghiệp. Nhà nước cần đầu tư hơn nữa vào đội ngũ cán bộ chuyên trách về nhãn hiệu hàng hoá vì Cục SHTT hiện đang quá thiếu nhân sự và quá tải về khối lượng công việc.

Ông Phạm Vũ Khánh Toàn, Trưởng văn phòng luật Phạm và Liên danh


  • Năng lực của các cơ quan hữu quan đúng là một vấn đề bất cập lớn trong việc bảo vệ thương hiệu hiện nay.

    Nói về hệ thống toà án, rất khó có thể tìm được những thẩm phán có đủ hiểu biết về lĩnh vực quyền SHTT nói chung, chưa nói đến thương hiệu. Lấy ví dụ gần đây, trong một chương trình hợp tác với Chính phủ Thụy Sĩ để đào tạo 10 thẩm phán Việt Nam về nghiệp vụ SHTT ở Anh, cơ quan tòa án không thể cử ra được đủ 10 thẩm phán có đủ các tiêu chí về ngoại ngữ và kiến thức chuyên môn căn bản, sau đó đành phải đề cử thư ký toà. Mô hình có một toà án chuyên biệt về SHTT của một số nước khác trong khu vực như Thái Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản .v.v là rất đáng để Việt Nam xem xét nhằm xây dựng được đội ngũ thẩm phán có trình độ chuyên môn cần thiết về SHTT.

    Bản thân Cục SHTT - cơ quan phụ trách đăng ký về SHTT, cũng còn nhiều hạn chế về năng lực. Hiện Cục chưa có các chi cục ở các thành phố. Nhân sự của Cục còn thiếu nhiều. Năng lực, kiến thức, kinh nghiệm cũng còn thiếu so với các nước trong khu vực như Thái lan, Singapore. Cục cũng còn bị hạn chế về ngân sách hoạt động. Cơ quan SHTT ở các nước khác đều được coi là cơ quan dịch vụ công ích được giữ lại hầu hết các khoản thu lệ phí đăng ký (hàng trăm triệu, thậm chí có thể đến hàng tỷ USD) để đầu tư vào công nghệ, nhân sự và trang trải chi phí. Song ở Việt Nam, lệ phí thu đăng ký SHTT vẫn được coi như một nguồn thu cho ngân sách và tỷ lệ lệ phí được giữ lại cho tái đầu tư cho Cục còn rất hạn chế. Nên chăng Việt Nam xem xét một cơ chế linh hoạt hơn về tài chính cho Cục.

Ông Trần Việt Hùng, Phó Cục trưởng, Cục Sở Hữu Trí tuệ, Bộ Khoa học và Công nghệ


  • Những chuyên gia thẩm định của Cục SHTT cũng như thẩm phán của tòa án Việt Nam không được đào tạo hoặc được đào tạo còn quá ít về SHTT và các hiệp định quốc tế có liên quan tới SHTT mà Việt Nam đã tham gia hoặc dự định sẽ tham gia.Theo tôi, việc thực thi quyền SHTT ở Viêt Nam còn chưa thống nhất với các tập quán quốc tế theo tinh thần các hiệp ước của Tổ chức SHTT Thế giới (WIPO). Ví dụ, trường hợp 2 nhãn hiệu bằng chữ mà có 2 chữ cái khác nhau đã từng được quyết định là đủ khác nhau và được phép cùng tồn tại. Với tình trạng thực thi luật như hiện tại ở Việt Nam và các vấn đề về bảo hộ như đã nói ở trên, luật về SHTT của Việt Nam cần được cải tổ gấp. Tuy nhiên, dường như Chính phủ Việt Nam chưa có kế hoạch soạn thảo luật về SHTT trong vòng hai năm tới.

Ông Paul A. Norris, Luật sư quốc tế, Hãng luật Baker & McKenzie


>> Xem thêm

Tổ chức và thực hiện: Ban biên tập Trung tâm Thông tin Kinh tế
Địa chỉ: tầng 5, Trung tâm Thương mại Quốc tế, Số 9 Đào Duy Anh, Hà Nội
ĐT: (84-4) 574 3084 - Fax: (84-4) 574 2773 - E-mail: vcci@hn.vnn.vn