-
Thời gian trung bình để cấp đăng ký nhãn hiệu hàng hoá ở Việt
Nam là 12 đến 15 tháng, nhiều doanh nghiệp phàn nàn như vậy là
quá lâu, song theo tôi là khá nhanh chóng và hiệu quả. Lý do là
Việt Nam đã tham gia và do đó cần phải tuân thủ hai thoả thuận
quốc tế quan trọng về SHTT là Công ước Paris về Sở hữu công
nghiệp và Thoả ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa.
Hai hiệp định quốc tế đa phương này đòi hỏi phải có thời gian từ
sáu đến chín tháng để xác định được các xung đột quyền giữa các
đơn quốc tế, đơn quốc gia xin hưởng quyền ưu tiên công ước và
đơn quốc gia bình thường, nên thời gian thực tế còn lại để xử lý
đơn xin đăng ký chỉ là từ ba đến sáu tháng. ở các nước khác, ví
dụ như Mỹ, thời gian đăng ký một nhãn hiệu hàng hóa là từ 12 đến
18 tháng. Trong trường hợp có các trở ngại phát sinh như xung
đột quyền với các chủ thể khác, thời gian này có thể kéo dài đến
hai, thậm chí năm năm. Tuy nhiên, cần thừa nhận rằng quy mô và
năng lực của các cơ quan nhà nước hữu quan còn chưa đáp ứng được
với nhu cầu của doanh nghiệp. Nhà nước cần đầu tư hơn nữa vào
đội ngũ cán bộ chuyên trách về nhãn hiệu hàng hoá vì Cục SHTT
hiện đang quá thiếu nhân sự và quá tải về khối lượng công việc.
Ông Phạm Vũ Khánh
Toàn, Trưởng văn phòng luật Phạm và Liên danh
-
Năng lực của các cơ
quan hữu quan đúng là một vấn đề bất cập lớn trong việc bảo vệ
thương hiệu hiện nay.
Nói về hệ thống toà án, rất khó có thể tìm được những thẩm phán
có đủ hiểu biết về lĩnh vực quyền SHTT nói chung, chưa nói đến
thương hiệu. Lấy ví dụ gần đây, trong một chương trình hợp tác
với Chính phủ Thụy Sĩ để đào tạo 10 thẩm phán Việt Nam về nghiệp
vụ SHTT ở Anh, cơ quan tòa án không thể cử ra được đủ 10 thẩm
phán có đủ các tiêu chí về ngoại ngữ và kiến thức chuyên môn căn
bản, sau đó đành phải đề cử thư ký toà. Mô hình có một toà án
chuyên biệt về SHTT của một số nước khác trong khu vực như Thái
Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản .v.v là rất đáng để Việt Nam xem xét
nhằm xây dựng được đội ngũ thẩm phán có trình độ chuyên môn cần
thiết về SHTT.
Bản thân Cục SHTT - cơ quan phụ trách đăng ký về SHTT, cũng còn
nhiều hạn chế về năng lực. Hiện Cục chưa có các chi cục ở các
thành phố. Nhân sự của Cục còn thiếu nhiều. Năng lực, kiến thức,
kinh nghiệm cũng còn thiếu so với các nước trong khu vực như
Thái lan, Singapore. Cục cũng còn bị hạn chế về ngân sách hoạt
động. Cơ quan SHTT ở các nước khác đều được coi là cơ quan dịch
vụ công ích được giữ lại hầu hết các khoản thu lệ phí đăng ký
(hàng trăm triệu, thậm chí có thể đến hàng tỷ USD) để đầu tư vào
công nghệ, nhân sự và trang trải chi phí. Song ở Việt Nam, lệ
phí thu đăng ký SHTT vẫn được coi như một nguồn thu cho ngân
sách và tỷ lệ lệ phí được giữ lại cho tái đầu tư cho Cục còn rất
hạn chế. Nên chăng Việt Nam xem xét một cơ chế linh hoạt hơn về
tài chính cho Cục.
Ông Trần Việt Hùng,
Phó Cục trưởng, Cục Sở Hữu Trí tuệ, Bộ Khoa học và Công nghệ
-
Những chuyên gia
thẩm định của Cục SHTT cũng như thẩm phán của tòa án Việt Nam
không được đào tạo hoặc được đào tạo còn quá ít về SHTT và các
hiệp định quốc tế có liên quan tới SHTT mà Việt Nam đã tham gia
hoặc dự định sẽ tham gia.Theo tôi, việc thực thi quyền SHTT ở
Viêt Nam còn chưa thống nhất với các tập quán quốc tế theo tinh
thần các hiệp ước của Tổ chức SHTT Thế giới (WIPO). Ví dụ,
trường hợp 2 nhãn hiệu bằng chữ mà có 2 chữ cái khác nhau đã
từng được quyết định là đủ khác nhau và được phép cùng tồn tại.
Với tình trạng thực thi luật như hiện tại ở Việt Nam và các vấn
đề về bảo hộ như đã nói ở trên, luật về SHTT của Việt Nam cần
được cải tổ gấp. Tuy nhiên, dường như Chính phủ Việt Nam chưa có
kế hoạch soạn thảo luật về SHTT trong vòng hai năm tới.
Ông Paul A. Norris,
Luật sư quốc tế, Hãng luật Baker & McKenzie
>> Xem thêm
|