|
BẢO VỆ NHÃN HIỆU
để cạnh tranh và hội nhập
Gần đây,
báo chí thường xuyên đề cập đến vấn đề vi phạm quyền sở hữu thương
hiệu (1), làm nhái nhãn hiệu hàng hoá. Trường hợp của Cà phê Trung
Nguyên và Dầu khí Việt Nam (PetroVietnam) là những ví dụ sinh động
về các vấn đề mà các doanh nghiệp đang gặp phải khi bảo vệ thương
hiệu của mình ở nước ngoài. Các doanh nghiệp này đã phát hiện ra
thương hiệu của mình bị đánh cắp trước khi doanh nghiệp triển khai
đăng ký bảo hộ thương hiệu tại thị trường Mỹ và hiện đang gặp nhiều
khó khăn trong việc đàm phán giành lại thương hiệu của mình. Tại thị
trường nội địa, những nhãn hiệu nước khoáng như "La Vie" của Công ty
Liên doanh La Vie hay thức ăn gia súc như "Con Heo Vàng" của Công ty
TNHH thương mại VIC... cũng liên tục bị làm nhái. Bảo vệ tốt quyền
sở hữu trí tuệ (SHTT) nói chung, thương hiệu nói riêng là vô cùng
quan trọng nếu Việt Nam muốn cạnh tranh trên thị trường thế giới.
Nếu bảo hộ thương hiệu kém thì sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến các doanh
nghiệp Việt Nam ở cả thị trường trong nước và nước ngoài, và hạn chế
tính hấp dẫn của Việt Nam đối với đầu tư nước ngoài.
Khung
pháp luật chưa hoàn chỉnh
Trong vòng một thập kỷ
qua, Việt Nam đã có những cố gắng đáng kể để xây dựng hệ thống pháp
luật về SHTT. Bộ luật Dân sự được thông qua năm 1995 có một phần về
quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ (Phần VI) và sau đó là
hàng loạt các nghị định và thông tư hướng dẫn thi hành được ban
hành. Tuy nhiên, SHTT chỉ là một phần nhỏ trong Bộ luật Dân sự cho
nên còn chung chung và tương đối sơ sài, bên cạnh đó nhiều văn bản
hướng dẫn thi hành dưới luật chưa cụ thể và chi tiết. Thông thường ở
các nước phát triển, luật SHTT là một bộ luật riêng biệt rất chi
tiết, rõ ràng và được chia ra các nhánh cụ thể (bao gồm: quyền tác
giả và sở hữu công nghiệp, sáng chế, giải pháp hữu ích, nhãn hiệu
hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp...). Các doanh nghiệp Việt Nam cũng
thường đề cập đến một số chính sách bất cập trong việc phát triển
thương hiệu, ví dụ như quy định về chi phí cho hoạt động tiếp thị và
quảng cáo không được quá 10% tổng chi phí để tính thuế thu nhập
trong Luật thuế thu nhập doanh nghiệp.
Cơ chế
xử lý vi phạm còn quá yếu
Hiện tại, có nhiều cơ quan
cùng tham gia việc thực thi bảo hộ thương hiệu như Cục SHTT, Quản lý
thị trường, Công an Kinh tế, Thanh tra khoa học công nghệ, Bộ đội
biên phòng, Hải quan, Toà án. Tuy nhiên, không có cơ quan nào chịu
trách nhiệm chính về vấn đề này. Các thẩm phán thường thiếu kiến
thức chuyên môn về SHTT, vì vậy khi xét xử, phải phụ thuộc vào ý
kiến của nhiều cơ quan khác trước khi đưa ra phán quyết. Điều này
làm cho quy trình xử lý vi phạm của toà án kéo dài và không hiệu
quả. Do vậy, nhiều doanh nghiệp là nạn nhân của tình trạng đánh cắp
và nhái thương hiệu đã buộc phải đàm phán trực tiếp với đối tượng vi
phạm. Cách giải quyết không chính thức như thế này không những gây
tốn kém về thời gian và tiền bạc cho doanh nghiệp mà còn tạo cơ hội
cho tham nhũng. Nhiều doanh nghiệp cho rằng mức xử phạt hành chính
đối với vi phạm thương hiệu hiện nay từ 2 triệu đến 100 triệu đồng
là còn quá thấp và không có tác dụng nhiều đến việc ngăn ngừa tình
trạng làm hàng nhái hoặc hành vi đánh cắp thương hiệu. Việc xử phạt
hình sự lại rất ít khi được áp dụng mà mức phạt cũng chỉ từ 20 đến
200 triệu đồng (2).
Năng lực
hạn chế của các cơ quan quản lý việc đăng ký và thực thi bảo hộ SHTT
Gần đây số lượng hồ sơ
đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá đã tăng nhiều do các doanh nghiệp
Việt Nam ngày càng nhận thức tốt hơn về tầm quan trọng của thương
hiệu. Trong năm 2003, Cục SHTT đã nhận được tổng số gần 16.000 hồ sơ
xin đăng ký sở hữu công nghiệp. Hiện Cục chưa có chi nhánh tại các
tỉnh thành và với tổng số 140 cán bộ thì khối lượng công việc như
vậy là quá tải. Vào năm 2002, Cục đã xây dựng trang web của mình,
cung cấp một số thống kê cơ bản về số lượng hồ sơ đăng ký sở hữu
công nghiệp và một số rất ít các văn bản pháp luật về sở hữu công
nghiệp. Tuy nhiên trang web này vẫn chưa đăng tải những thông tư
hướng dẫn chi tiết, những thủ tục hay biểu mẫu để người dùng có thể
tham khảo và đăng ký, và các thông tin chưa được cập nhật thường
xuyên.
Hiểu
biết hạn chế về thương hiệu từ phía doanh nghiệp và thiếu vắng các
chuyên gia giỏi về thương hiệu
Mặc dù các doanh nghiệp
Việt Nam đã bắt đầu nhận thức được tầm quan trọng của thương hiệu,
song việc đầu tư cho thương hiệu vẫn còn rất dè dặt. Theo các chuyên
gia, việc phát triển thương hiệu là vô cùng quan trọng, cần phải có
thời gian và hệ thống; trong khi đó các doanh nghiệp Việt Nam thường
chỉ đăng ký nhãn hiệu khi sản phẩm của mình bán chạy trên thị
trường. Một kết quả khảo sát gần đây do báo Sài Gòn Tiếp thị cho
thấy: chỉ khoảng 16% doanh nghiệp có bộ phận chuyên phụ trách công
tác tiếp thị, hơn 80% doanh nghiệp không có chức danh quản lý nhãn
hiệu, và 74% doanh nghiệp chỉ đầu tư dưới 5% doanh thu cho việc xây
dựng và bảo vệ thương hiệu.
Không chỉ các doanh nghiệp
mà các nhà cung cấp dịch vụ tư vấn trong lĩnh vực này cũng ít về số
lượng, thiếu kỹ năng và chuyên môn. Phần lớn các công ty tư vấn chỉ
đơn thuần giúp các doanh nghiệp đăng ký nhãn hiệu; rất ít công ty
chuyên sâu về phát triển thương hiệu. Còn các công ty tư vấn nước
ngoài tuy có tính chuyên nghiệp và chuyên môn cao song còn hạn chế
về hiểu biết tâm lý và văn hoá bản địa nên cũng chưa cung cấp được
dịch vụ hỗ trợ hiệu quả.
(1) Hiện nay, Việt Nam chưa có định
nghĩa pháp lý về thương hiệu.
(2) “Thực thi quyền bảo hộ SHTT tại Việt Nam”, Cục SHTT, Hà Nội,
tháng 3 năm 2003. |