|
TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ VÀ KINH DOANH VỐN NHÀ NƯỚC:
thách thức trong việc hoàn thành sứ mệnh được giao
Trong
vòng hai thập kỷ trở lại đây, cải cách doanh nghiệp nhà nước (DNNN)
luôn được coi là ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh
tế xã hội của nước ta. Hầu hết các nỗ lực cải cách đều tập trung vào
gỡ rối mối quan hệ giữa chức năng quản lý hành chính và chức năng
chủ sở hữu của các cơ quan nhà nước. Mục tiêu chính của những nỗ lực
này là giúp các DNNN độc lập tự chủ trong hoạt động kinh doanh thông
qua tái cơ cấu, công ty hóa và đa dạng hóa hình thức sở hữu (trong
đó có cổ phần hóa). Bất chấp những nỗ lực này, khối DNNN vẫn hoạt
động chưa hiệu quả, năng lực cạnh trạnh kém so với khối doanh nghiệp
tư nhân. Vấn đề quản trị DNNN, vai trò đúp của Nhà nước trong quản
lý và sở hữu doanh nghiệp, cho đến nay vẫn chưa được giải quyết
triệt để.
Việc thành lập Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC)
là một sáng kiến mới của Chính phủ nhằm tiếp tục nỗ lực cải cách khu
vực kinh tế nhà nước. Theo điều lệ, SCIC sẽ thực hiện quyền sở hữu
nhà nước trong các doanh nghiệp cổ phần hóa, hướng tới bán nốt phần
vốn nhà nước ở các doanh nghiệp cổ phần hóa mà Nhà nước không cần
giữ cổ phần chi phối.1 Việc thành lập SCIC được đánh giá
là một bước đi đúng nhằm tách biệt quyền của chủ sở hữu và trách
nhiệm quản lý điều hành của Nhà nước trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của các DNNN, giảm thiểu can thiệp chính trị vào việc quản lý
tài sản nhà nước và thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa ở nước ta.
Tuy nhiên SCIC mới vừa thành lập không lâu và Việt Nam chưa có kinh
nghiệm quản lý một mô hình công ty tài chính đặc biệt như vậy. Câu
hỏi đặt ra là “Liệu SCIC có đủ khả năng thực hiện được sứ mệnh lớn
lao này không”. Bản tin này sẽ đề cập đến một số thách thức SCIC sẽ
phải đương đầu cũng như đưa ra một số đề xuất để SCIC quản lý tài
sản nhà nước một cách chuyên nghiệp, hiệu quả và minh bạch hơn, góp
phần đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa ở Việt Nam.
Là cổ
đông chi phối đối với một danh mục đầu tư lớn và đa ngành nghề
Theo điều lệ, SCIC được
giao là đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước trong các doanh nghiệp cổ
phần hóa với mục tiêu giảm thiểu xung đột giữa chức năng chủ sở hữu
và quản lý hành chính của nhà nước, và nhờ đó nguồn vốn nhà nước
được sử dụng một cách hiệu quả và minh bạch hơn. Nếu chiếu theo đúng
điều lệ, SCIC có thể phải tiếp nhận đến 3000 doanh nghiệp cổ phần
hóa trong vòng ba năm tới.2 Và SCIC sẽ trở thành cổ đông
chi phối trong rất nhiều doanh nghiệp cổ phần hóa thuộc nhiều ngành
nghề và lĩnh vực khác nhau. Với tư cách là cổ đông nắm giữ cổ phần
chi phối, SCIC không thể chỉ là một nhà đầu tư “thầm lặng” và thờ ơ
trước chất lượng quản trị của các doanh nghiệp trong danh mục quản
lý. Nếu như vậy, lãnh đạo của các doanh nghiệp này rất có thể không
phải chịu trách nhiệm trước kết quả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp mình và làm cho mục đích thành lập ra SCIC (để quản lý vốn
nhà nước một cách hiệu quả hơn) hoàn toàn thất bại.
Chính trong bối cảnh này,
SCIC sẽ phải tích cực tham gia cải thiện chất lượng quản trị và tái
cấu trúc, nếu cần thiết, các doanh nghiệp SCIC quản lý. Thực hiện
công việc này ở hàng ngàn doanh nghiệp thuộc nhiều ngành khác nhau
là khó khả thi trên thực tế. SCIC cần có một hệ thống phân loại hiệu
quả các doanh nghiệp trong danh mục mình quản lý và xác định cụ thể
số lượng doanh nghiệp (trong những ngành/lĩnh vực không được coi là
chiến lược hay những doanh nghiệp hoạt động hiệu quả) để tiếp tục
bán.
Hơn nữa, nếu SCIC được
giao quản lý cả doanh nghiệp ngân hàng và phi ngân hàng thì nhất
thiết phải thiết lập một chính sách bảo mật thông tin nghiêm ngặt
(Chinese wall) giữa các phòng ban trong SCIC để tránh tình trạng các
ngân hàng thành viên bị sức ép phải cho các công ty thành viên vay
những dự án (doanh nghiệp) phát triển kém bền vững hoặc chứa đựng
rủi ro cao.
Mục tiêu
đầu tư xung đột
Bên cạnh nhiệm vụ quản lý
vốn nhà nước tại các doanh nghiệp cổ phần hóa, với số vốn điều lệ
ban đầu là 5000 tỷ đồng (tương đương với 315 triệu đô la Mỹ), SCIC
được quyền thực hiện các hoạt động đầu tư trực tiếp và gián tiếp
trong đó phải kể đến đầu tư vào những “dự án có rủi ro cao” và “các
dự án thuộc các ngành, lĩnh vực không có khả năng sinh lời cần có
chính sách ưu đãi và sự hỗ trợ về tài chính của Nhà nước” (do Thủ
tướng chính phủ quyết định).3 Các chuyên gia bày tỏ hai
quan ngại lớn đối với mục tiêu đầu tư của SCIC. Thứ nhất, việc SCIC
được phép thực hiện các hoạt động đầu tư mới có thể làm bành trướng
khu vực kinh tế nhà nước. Thứ hai, làm thế nào SCIC có thể hoàn
thành cả hai mục tiêu dường như đối lập nhau: thương mại và xã hội
trong hoạt động đầu tư của mình.
Nhiều chuyên gia cho rằng
ít nhất trong thời gian đầu, SCIC nên tập trung vào quản lý hiệu quả
danh mục DNNN của mình như cải thiện công tác quản trị doanh nghiệp
và tăng giá trị cổ đông ở các công ty thành viên cũng như đẩy nhanh
tiến trình bán phần vốn nhà nước trong các doanh nghiệp không thuộc
ngành chiến lược. Để làm được việc này, SCIC cần đề ra những mục
tiêu và tiêu chí đánh giá chọn lựa các dự án đầu tư để trước hết
tăng giá trị cho phần vốn nhà nước trong các doanh nghiệp SCIC được
giao quản lý và khuyến khích sự tham gia, thay vì loại bỏ, của các
nhà đầu tư tư nhân. Về trung hạn, SCIC có thể tham gia đầu tư vào
một số dự án xã hội (như y tế, giáo dục…) - đây có thể là những lĩnh
vực ít sinh lời, rủi ro cao cần có sự hỗ trợ ban đầu về vốn của nhà
nước.
Cơ cấu
quản trị và báo cáo tài chính còn mơ hồ
SCIC được thành lập như là
một tổng công ty đặc biệt, báo cáo trực tiếp Thủ tướng Chính phủ và
chịu sự giám sát của Bộ Tài chính. Các thành viên Hội đồng quản trị
của SCIC do Thủ tướng bổ nhiệm - Thủ tướng có quyền quyết định mọi
mặt hoạt động của SCIC: từ mục tiêu, chiến lược và định hướng phát
triển cho đến một số dự án đầu tư cụ thể.4 Bộ Tài chính, các bộ
ngành và chính quyền địa phương cũng có quyền thực hiện “chức năng
quản lý chuyên ngành” đối với SCIC. Cơ chế giám sát như vậy làm cho
cơ cấu quản trị của cơ quan đầu tư nhà nước này phức tạp và dễ tạo
những kẽ hở cho sự can thiệp không cần thiết của các cơ quan hành
chính đối với hoạt động của SCIC.
Hơn nữa, SCIC có thể sẽ là
thực thể nắm một lượng vốn nhà nước lớn nhất trong nền kinh tế, cần
đặt ra một cơ chế trách nhiệm rõ ràng cho SCIC. SCIC cần phải chịu
trách nhiệm trước quốc hội và công chúng. SCIC phải tuân thủ các yêu
cầu về báo cáo tài chính và công bố thông tin như các công ty niêm
yết.
Xây dựng
đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp
SCIC đang theo đuổi những
hoài bão lớn: trở thành (i) một cổ đông năng động, (ii) một nhà đầu
tư chiến lược, (iii) một nhà tư vấn tài chính chuyên nghiệp; và (iv)
một doanh nghiệp được quản trị theo tiêu chuẩn quốc tế. Để thực hiện
được những hoài bão trên SCIC phải hoạt động như là một công ty đầu
tư chuyên nghiệp thay vì lại là một công cụ chính trị để Nhà nước
tiếp tục can thiệp sâu vào nền kinh tế. Bên cạnh nguồn lực tài chính
mạnh, SCIC cần có đội ngũ nhân viên làm việc chuyên nghiệp, giỏi
chuyên môn và dày dặn kinh nghiệm thương trường. Để thu hút được
nhân tài từ khu vực tư nhân SCIC cần có chính sách phát triển và
quản lý nguồn nhân lực tiên tiến đặc biệt có mức thu nhập cạnh tranh–đây
lại là một thách thức nữa đối với một doanh nghiệp nhà nước như SCIC.
Hầu hết các nền kinh tế kế
hoạch khi chuyển đổi sang kinh tế thị trường đều phải đối mặt với
nhiệm vụ khó khăn là tư nhân hóa một lượng lớn các doanh nghiệp nhà
nước. Có những mô hình thành công cũng như thất bại trên thế giới
cũng như trong khu vực mà Việt Nam cần tiếp tục nghiên cứu và rút ra
bài học cho mình. Để vốn nhà nước được quản lý và sử dụng một cách
hiệu quả nhất, điều lệ và chiến lược của SCIC cần được sửa đổi để
phản ánh được những bài học này, để tuân thủ các nguyên tắc quản trị
tiên tiến, công khai và minh bạch thông tin, và một số các thông lệ
quốc tế khác.
(1) SCIC sẽ tiếp nhận và quản lý
một loạt các doanh nghiệp trước đây chịu sự quản lý của các bộ và
chính quyền các tỉnh.
(2) Đó là chưa kể đến các tổng công ty (90, 91) các tập đoàn kinh tế,
các ngân hàng thương mại quốc doanh.Theo điều lệ, SCIC có thể tiếp
nhận phần vốn nhà nước trong các tổng công ty và các công ty mẹ một
khi chúng hoàn thành cổ phần hóa.
(3) Xem chi tiết trong điều lệ của SCIC. |