|
HUY ĐỘNG VỐN CỔ ĐÔNG
Thách thức của thị trường cổ phiếu Việt Nam
Việc phát triển thị trường vốn đang là một trong những vấn đề ưu tiên
hàng đầu của Chính phủ Việt Nam. Trong bài phát biểu tổng kết Hội
nghị Chính phủ sơ kết 4 năm thi hành Luật Doanh nghiệp toàn quốc đầu
tháng 11 năm 2003, Thủ tướng Phan Văn Khải đã nêu rõ điều cấp bách
hiện nay là hình thành đồng bộ các loại thị trường, trong đó có thị
trường vốn, để tạo dựng môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp hoạt
động có hiệu quả. Tại hội nghị này, chính giới ngân hàng cũng đã
khuyến cáo doanh nghiệp cần tìm nguồn vốn trung và dài hạn thông qua
các kênh khác của thị trường vốn như trái phiếu hoặc cổ phiếu, vì
với nguồn huy động từ tiền gửi tiết kiệm ngắn hạn, hoạt động chính
của ngân hàng là cung cấp tín dụng ngắn hạn chứ không phải là dài
hạn. Bản tin này đề cập đến các khó khăn trong việc phát triển thị
trường cổ phiếu và huy động vốn cổ đông ở Việt Nam.
Số lượng
và chất lượng hạn chế của cổ phiếu niêm yết trên Trung tâm Giao dịch
Chứng khoán (TTGDCK)
Sau hơn 3 năm hoạt động,
với 22 công ty được niêm yết vào thời điểm hiện tại, quy mô của
TTGDCK Việt Nam còn quá nhỏ so với nhu cầu vốn của nền kinh tế.1 Tất
cả các công ty niêm yết hiện đều là các công ty quy mô nhỏ với số
vốn khoảng vài chục tỷ đồng, chưa đủ gây ra sức hút đối với các nhà
đầu tư. Cho đến nay, chưa có DNNN lớn nào được Nhà nước cho phép bán
cổ phần ra công chúng và niêm yết trên TTGDCK. Số lượng công ty tư
nhân đạt tiêu chuẩn niêm yết cũng rất hạn chế. Hơn nữa, các công ty
niêm yết trên thị trường hiện nay đều đã được cổ phần hóa trước khi
niêm yết; chưa công ty nào được thành lập mới bằng cách huy động vốn
qua TTCK (IPO). Nhiều nhà đầu tư cho rằng sự hạn chế từ phía cung
này khiến thị trường không có sức hấp dẫn đối với họ.
Thiếu vắng sự tham gia
tích cực của những nhà đầu tư tổ chức trên thị trường
Về phía cầu, những nhà đầu
tư cổ phiếu trên TTGDCK Việt Nam hầu hết là cá nhân mang tính đầu cơ
hơn là đầu tư, góp phần tạo tính bất ổn định của thị trường. Điều
này làm cho chính các doanh nghiệp ngần ngại khi quyết định huy động
vốn qua TTGDCK. Những nhà đầu tư tổ chức Việt Nam cũng như nước
ngoài chưa tham gia nhiều vào mua cổ phiếu của các công ty niêm yết,
một phần là do tính kém hấp dẫn của các cổ phiếu trên thị trường,
nhưng cũng một phần do những khó khăn, phức tạp liên quan đến khuôn
khổ pháp lý. Những khó khăn đó là khung pháp lý về bảo vệ quyền lợi
cổ đông thiểu số chưa đầy đủ, thiếu các chuẩn mực về công khai minh
bạch thông tin, các quy định chưa rõ ràng về chế độ thuế đối với nhà
đầu tư, quỹ đầu tư nước ngoài, các hạn chế về hạn mức đầu tư của nhà
đầu tư nước ngoài, v.v.
Hoạt động của thị trường
phi chính thức lớn hơn nhiều lần so với thị trường chính thức và
không được kiểm soát thích đáng
Việc bán cổ phiếu cho công
chúng ở bên ngoài TTGDCK (thị trường phi tập trung OTC) diễn ra khá
sôi động, nhưng hiện chưa có quy định pháp luật nào kiểm soát hoạt
động này. Theo ước tính, số lượng doanh nghiệp huy động vốn cổ đông
từ công chúng trên thị trường không chính thức này gấp khoảng 30 lần
số doanh nghiệp niêm yết chính thức.2 Trong số khoảng 1.000 DNNN đã
được cổ phần hóa, chỉ có chưa tới 3% đã niêm yết, như vậy có thể cho
rằng một số lượng lớn cổ phiếu của các doanh nghiệp này đang được
mua bán trên thị trường không chính thức.
Ở các nền kinh tế phát
triển, thị trường OTC thường cũng có quy mô lớn hơn gấp nhiều lần
thị trường tập trung, song thị trường này được kiểm soát bởi các
luật lệ khá chặt chẽ nhằm bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư. Các luật
lệ này vẫn chưa được thiết lập ở Việt Nam. Lo lắng chung từ phía
quản lý nhà nước cũng như giới doanh nghiệp là thị trường phi chính
thức không được kiểm soát này có nguy cơ sụp đổ cao và có thể gián
tiếp làm tổn hại cho thị trường chính thức mới manh nha phát triển.
Chiến lược phát triển
thị trường vốn của Chính phủ và khuôn khổ pháp lý liên quan còn có
nhiều bất cập
Mặc dù Chính phủ đã thể
hiện quyết tâm phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam (qua Quyết
định số 163/2003/QD-TTg ra ngày 5/8/2003 định ra các mục tiêu chiến
lược như đưa tổng giá trị thị trường chứng khoán đạt 2-3% GDP vào
năm 2005 và 10-15% GDP vào năm 2010), nhưng các quy định pháp lý
hiện hành cũng như những biện pháp triển khai dường như lại không
thống nhất với chiến lược này. Ví dụ như theo văn bản Nhà nước gần
đây nhất về cổ phần hóa (Chỉ thị số 01 Chính phủ tháng 1 năm 2003),
Nhà nước vẫn sẽ nắm giữ ít nhất 51% cổ phần đối với các DNNN cổ phần
hóa có vốn trên 5 tỷ đồng và sản xuất kinh doanh có lãi. Như vậy,
trong số gần 2.000 DNNN nằm trong kế hoạch cổ phần hóa đến năm 2005,
sẽ có rất ít trường hợp mà cổ đông tư nhân được chiếm phần đa số
trong các công ty lớn.
Quy mô nhỏ và mức độ
công khai thông tin thấp của các doanh nghiệp Việt Nam
Các công ty tư nhân của
Việt Nam mới phát triển trong vòng hơn một thập kỷ qua, đặc biệt là
từ năm 2000. Vì vậy, hầu hết các công ty tư nhân đều ở một quy mô
nhỏ hoặc rất nhỏ và thường được quản lý theo kiểu gia đình. Hơn nữa,
nhiều doanh nghiệp tư nhân Việt Nam thường tìm cách duy trì chế độ
nhiều sổ sách và không công khai thông tin. Ví dụ, số doanh nghiệp
báo cáo tài chính theo quy định của Luật Doanh nghiệp chỉ chiếm
khoảng 15-20%.3 Nguyên nhân của tình hình này không chỉ do ý định
chủ quan, thói quen của doanh nghiệp mà còn do sự thiếu vắng khung
pháp lý và các chuẩn mực về công khai thông tin, kiểm toán, kế
toán... của Việt Nam. Các vấn đề này tiếp tục là trở ngại đối với
nhà đầu tư và không khuyến khích được hoạt động huy động vốn cổ
đông. |