-
Hiện
khung pháp lý về BOT (kể cả dự thảo Nghị định BOT mới) vẫn chưa
tạo được làn sóng đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài vào phát
triển cơ sở hạ tầng ở Việt Nam. Trong thời gian trước, đã có một
số dự án BOT không thành công như thất bại của dự án điện
Wartsila (BOT nước ngoài) hay thua lỗ ở dự án cầu đường Bình
Triệu (BOT trong nước). Có thể nói Nhà máy điện Phú Mỹ II là một
trong những thành công lớn nhất của đầu tư nước ngoài theo mô
hình BOT.
Giải quyết các vấn đề về đầu tư theo BOT không chỉ dừng lại ở
giải quyết cơ chế thuế hay quy trình cấp phép mà còn là vấn đề
về tài trợ dự án. Hiện nay các công ty nước ngoài gặp rất nhiều
khó khăn trong tìm tài trợ cho dự án BOT do i) các công ty nước
ngoài không vay được các ngân hàng trong nước vì họ không có tài
sản thế chấp (thế chấp theo kiểu tài trợ dự án hiện còn nhiều
hạn chế); ii) các ngân hàng nước ngoài lại không có quyền nhận
thế chấp để cho các công ty nước ngoài vay. Vì vậy, nên cho phép
các công ty BOT được quyền huy động vốn bằng nhiều cách khác
nhau như thông qua phát hành trái phiếu công ty hay bán cổ phần.
Hơn nữa, Nhà nước nên cho các ngân hàng nước ngoài quyền lớn hơn
trong quản lý và chuyển nhượng các dự án BOT. Một khi lợi nhuận
dự kiến của công ty BOT không đạt mức mà các ngân hàng mong đợi
thì các ngân hàng cần có quyền tiếp nhận (step-in rights) và bán
cho bên thứ ba. Hiện nay, bên thứ ba này cần nhận được sự chấp
thuận từ phía đối tác Việt Nam (Bộ ký hợp đồng BOT như Bộ GTVT,
Bộ CN). Tuy nhiên các Bộ này chắc chắn sẽ không chấp thuận trước
khi biết chính xác đối tác đầu tư mới là ai. Đây cũng đang là
một cản trở cho vấn đề tài trợ dự án BOT.
Hầu hết các công ty BOT quan tâm nhiều nhất đến quyền được khai
thác dịch vụ gia tăng - đây là vấn đề chưa được đề cập trong dự
thảo nghị định BOT. Thay vì không chấp nhận các dịch vụ gia tăng
này, Chính phủ có thể đàm phán để tìm mô hình cùng các nhà đầu
tư khai thác các dịch vụ gia tăng đó. Hiện nay các cơ quan chức
năng xem xét và duyệt từng dự án cụ thể; hậu quả là các nhà đầu
tư phải xin phép nhiều cấp, nhiều tầng, rất mất thời gian và chi
phí giao dịch.
Đàm phán hợp đồng BOT thực ra là việc đàm phán giữa lợi ích Nhà
nước và lợi nhuận của tư nhân, vì vậy cần một đội ngũ chuyên gia
giỏi và dày dạn kinh nghiệm trong việc đàm phán và soạn thảo hợp
đồng BOT để đảm bảo vừa đáp ứng được các yêu cầu của các nhà đầu
tư tư nhân vừa mang lại lợi ích cho quốc gia. Do đó, cần phân
quyền cấp phép các dự án BOT xuống địa phương, tùy theo tính
chất và quy mô của từng dự án để tiết kiệm thời gian và chi phí
cấp phép cho nhà đầu tư.
Ông Lê Nết, thành viên cố vấn
Văn phòng Luật sư LCT Lawyers
-
Dự
thảo mới nhất của Nghị định BOT đã có nhiều thay đổi theo chiều
hướng tích cực và chắc chắn sẽ góp phần thu hút thêm đầu tư tư
nhân vào lĩnh vực hạ tầng. Tôi xin minh hoạ một số ví dụ. Một,
đối với các dự án do nhà đầu tư tự đề xuất, đã có quy định cụ
thể là nhà đầu tư sẽ được thông báo sau 45 ngày kể từ ngày nộp
đầy đủ hồ sơ theo quy định. Hai, các bên tham gia ký kết hợp
đồng liên quan đến dự án BOT có thể được áp dụng luật nước ngoài
trong trường hợp luật nước ngoài đó không trái với những nguyên
tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Ba, quy định về đảm bảo thực
hiện hợp đồng dự án cũng đã rõ ràng hơn, theo đó đảm bảo thực
hiện dự án có giá trị bằng 1% tổng vốn đầu tư đối với dự án trên
1500 tỷ đồng và 3% đối với dự án dưới 1500 tỷ. Bốn, doanh nghiệp
dự án sẽ được miễn toàn bộ tiền thuê đất trong suốt thời gian
thực hiện dự án.
Tuy nhiên, ban soạn thảo nên tiếp tục hoàn thiện dự thảo Nghị
định ở một số điểm sau. Trước hết, Nghị định nên quy định rõ nhà
nước có thể sử dụng những loại hình thức nào để bảo lãnh nghĩa
vụ thực hiện hợp đồng - đây là một cấu phần quan trọng trong
nghiên cứu khả thi của một dự án BOT; Hay nên cho phép một số
trường hợp nhà đầu tư và các cơ quan nhà nước có thể đàm phán
một mức vốn sở hữu tối thiểu thấp hơn so với mức 20% và 30%
tương ứng như trong Nghị định hiện nay.
Ông Oliver Massmann, Luật sư Quốc tế
Công ty Luật Baker & McKenzie,Hà Nội
>> Xem thêm
|