TRUNG TÂM THÔNG TIN KINH TẾ - PHÒNG THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Số 16 (19) Tháng 10/2006

   

Giới thiệu
 

Đăng ký và phản hồi
 

SỐ 22
Tiếp cận đất đai
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 21
Tổng công ty đầu tư và
kinh doanh vốn nhà nước
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 20
Đơn giản hoá thủ tục
thành lập doanh nghiệp
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 19
Hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 18
Thành lập doanh nghiệp
ở Việt Nam
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 17
Đơn giản hóa hệ thống
giấy phép kinh doanh
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 16
Hỗ trợ doanh nhân nữ
phát triển
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 15
Trung tâm thông tin
tín dụng tư nhân
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 14
Cải cách
môi trường kinh doanh
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 13
Quản trị doanh nghiệp
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 12
Luật Đầu tư (chung)
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 11
Khu vực kinh tế tư nhân
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 10
Luật Doanh nghiệp
thống nhất
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 9
Ưu đãi đầu tư ở Việt Nam
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 8
Môi trường kinh doanh 2004
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 7
Dịch vụ
phát triển kinh doanh
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 6
Chính quyền địa phương
& Kinh tế tư nhân
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 5
Định giá
doanh nghiệp nhà nước
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 4
Trách nhiệm xã hội
của doanh nghiệp
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 3
Thương hiệu và nhãn hiệu
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 2
Thị trường cổ phiếu
:: Bài viết  :: Thảo luận

 

SỐ 1
Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi
:: Bài viết  :: Thảo luận

 

 

THẢO LUẬN
 
Tiền kiểm hay hậu kiểm  

  • Trong khi Luật Doanh nghiệp 2005 tìm cách hạn chế cấp phép, gia tăng hậu kiểm, buộc doanh nghiệp tuân thủ kỉ luật báo cáo và bị giám sát thường xuyên (ex post control), thì Luật Đầu tư 2005 (được cụ thể hóa trong Nghị định hướng dẫn thi hành) duy trì tư duy tiền kiểm truyền thống, kiểm soát ngay từ khâu đầu tiên của dự án (ex ante control), tạo thêm thủ tục đăng kí đầu tư (đối với dự án đầu tư nước ngoài nhỏ hơn 300 tỷ đồng) và dự án lớn hơn 300 tỷ đồng phải thẩm tra để cấp phép đầu tư.

    Lẽ ra Chính phủ cần đặt câu hỏi xem đặt ra các thủ tục đăng kí hay thẩm tra dự án đầu tư như vậy sẽ đạt được mục đích gì, đặc biệt nếu trong quá trình hoạt động, nhà đầu tư nước ngoài lại không tuân thủ các cam kết trong hồ sơ đăng kí. Vụ việc Trung tâm Anh ngữ SITC đã cho thấy những khuyết tật đáng ngờ của cơ chế tiền kiểm, các loại giấy phép đầu tư đã không cản được SITC thành lập hàng chục chi nhánh trên toàn quốc, không tuân thủ báo cáo tài chính, quỵt tiền lương của hàng ngàn giáo viên và tiền học phí của gần 3 vạn học viên trên 21 tỉnh thành toàn quốc. Những bài học cay đắng khác với Trường Quốc tế Hà Nội, Trường Đại học Á Châu đều cảnh báo sự kém hiệu quả của hệ thống tiền kiểm. Mục đích của việc đăng kí chắc rằng cũng phải giúp bảo vệ chủ nợ Việt Nam (người làm công, học sinh), bảo vệ môi trường sống, và xa hơn là cải thiện nỗi lo lạc hậu về công nghệ. Liệu hệ thống tiền kiểm đã chứng minh được hiệu quả trong gần 20 năm qua, hay cần phải tính tới những biện pháp can thiệp và phản ứng hiệu quả hơn của cơ quan nhà nước đối với các dự án đầu tư? Đây là điều cần khảo cứu kĩ lưỡng hơn trước khi quyết định duy trì hệ thống tiền kiểm truyền thống.

    Tiền kiểm nặng nề sẽ gia tăng chi phí cho cả nhà đầu tư lẫn các cơ quan quản lý nhà nước. Các biện pháp hậu kiểm lỏng lẻo sẽ tạo lỗ hổng cho các hành vi lách luật của các nhà đầu tư (moral hazard) theo hướng có lợi cho mình và làm thiệt hại cho nền kinh tế quốc gia. Quản lý nhà nước cồng kềnh và chồng chéo làm gia tăng chi phí quản lý của Nhà nước và làm nguội lạnh nhiệt tình của nhà đầu tư trong khi lại không chứng tỏ được tính hiệu lực của mình.

    Theo tôi, nên gia tăng cơ chế giám sát sau đăng kí, cưỡng bức mạnh mẽ trách nhiệm báo cáo, ví dụ như quy trách nhiệm hình sự nếu giám đốc doanh nghiệp từ chối báo cáo tài chính. Kinh nghiệm của Anh quốc cho thấy những hình thức can thiệp như tăng cường nghĩa vụ của doanh nghiệp phải kiểm toán độc lập, buộc kí quỹ, buộc mua bảo hiểm đối với những dự án có nguy cơ gây hại đến môi sinh dường như sẽ hiệu quả hơn chỉ là giám sát ban đầu thông qua báo cáo đánh giá tác động môi trường. Tăng hậu kiểm, làm cho các hoạt động đầu tư ngày càng có chất lượng, vừa phục vụ tăng trưởng ổn định, vừa dành dụm các nguồn tài nguyên cho các thế hệ con cháu, có lẽ nên là một chủ đích lớn của pháp luật Đầu tư.

Ông Phạm Duy Nghĩa, Trưởng bộ môn Luật Kinh doanh
Khoa Luật, Đại học Quốc gia


  • Hiện nay các cơ quan quản lý nhà nước tiếp tục soạn thảo các quy trình thủ tục theo hướng tăng cường tiền kiểm, nghĩa là xiết chặt việc kiểm soát ngay từ khi hoạt động kinh doanh còn chưa bắt đầu. Triết lý của các cơ quan lập pháp dường như vẫn là làm thế nào để giúp cho các cơ quan quản lý của nhà nước “quản” cho dễ, chứ chưa thực sự hướng tới quyền lợi hợp pháp và nhu cầu chính đáng của đối tượng bị điều chỉnh. Đây là triết lý rất sai lầm. Một nhà nước thực sự vì doanh nghiệp và vì người dân sẽ xử sự khác. Lấy ví dụ về một số quy định trong Nghị định hướng dẫn thi hành Luật đầu tư. Thủ tục đăng ký đầu tư mang nặng tính hình thức. Trên thực tế, giấy chứng nhận đầu tư (GCNĐT) ít có ý nghĩa, và có lẽ những thông tin về đăng ký đầu tư chủ yếu được dùng vào mục đích thống kê và báo cáo có tính hành chính, chứ không phải là để phục vụ mục đích phân tích và ra chính sách. Không những thế, cơ chế hậu kiểm, vốn quan trọng hơn nhiều so với các biện pháp tiền kiểm hầu như không đề cập đến. Hiện nay, ước tính trên thực tế chỉ khoảng 25% số doanh nghiệp đang hoạt động có báo cáo về hoạt động kinh doanh, và cũng không có cơ chế cưỡng bức đối với doanh nghiệp không tuân thủ báo cáo. Ngay cả đối với các công ty đang niêm yết trên thị trường chứng khoán, chế độ báo cáo (bắt buộc) chưa được thực hiện một cách nghiêm túc. Chất lượng báo cáo cho cổ đông và cơ quan quản lý nhà nước đều rất hạn chế, nhiều khi chỉ có tính hình thức để thỏa mãn yêu cầu của các cơ quan chức năng.

Ông Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc Nghiên cứu
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright


  • Theo tôi nên vô hiệu hóa giấy chứng nhận đầu tư. Giấy chứng nhận đầu tư chỉ mang tính chất hình thức. Tiêu cực hơn, GCNĐT giống như giấy độc quyền in tiền (anh và chỉ mình anh được quyền xây dựng một dự án cụ thể). Vì vậy các nhà đầu tư nhiều khi lợi dụng hình thức này để thu lợi cho mình. Nhà đầu tư không có năng lực tài chính thực sự có thể vẽ lên một dự án đẹp rồi được cấp đất và mang dự án đấy đi bán. Đang tồn tại một cơ chế giúp cho những người chỉ “vẽ” mà kiếm được nhiều tiền.

    Các nước khác quản lý các dự án đầu tư nước ngoài giống như các nhà đầu tư trong nước. Các nhà đầu tư nước ngoài cũng đăng ký thành lập doanh nghiệp. Nếu họ muốn có đất họ phải thương lượng với người dân và tiến hành đấu giá đất công khai. Nhà đầu tư nào trả giá cao thì sẽ được bàn giao đất - có nghĩa là những nhà đầu tư thực sự có tiềm năng mới được thực hiện các dự án.

Ông Lê Nết, thành viên cố vấn
Văn phòng Luật sư LCT Lawyers


  • Hiện nay Việt Nam vẫn chú trọng quản lý khâu gia nhập thị trường và chưa có một cơ chế hậu kiểm hiệu quả. Thật đáng tiếc khi các thủ tục cấp phép đầu tư vẫn còn phức tạp đang là yếu tố cản trở thu hút thêm đầu tư.

Ông Oliver Massmann, Luật sư Quốc tế
Công ty Luật Baker & McKenzie,Hà Nội


>> Xem thêm

Tổ chức và thực hiện: Ban biên tập Trung tâm Thông tin Kinh tế
Địa chỉ: tầng 5, Trung tâm Thương mại Quốc tế, Số 9 Đào Duy Anh, Hà Nội
ĐT: (84-4) 574 3084 - Fax: (84-4) 574 2773 - E-mail: vcci@hn.vnn.vn