-
Trong
khi Luật Doanh nghiệp 2005 tìm cách hạn chế cấp phép, gia tăng
hậu kiểm, buộc doanh nghiệp tuân thủ kỉ luật báo cáo và bị giám
sát thường xuyên (ex post control), thì Luật Đầu tư 2005 (được
cụ thể hóa trong Nghị định hướng dẫn thi hành) duy trì tư duy
tiền kiểm truyền thống, kiểm soát ngay từ khâu đầu tiên của dự
án (ex ante control), tạo thêm thủ tục đăng kí đầu tư (đối với
dự án đầu tư nước ngoài nhỏ hơn 300 tỷ đồng) và dự án lớn hơn
300 tỷ đồng phải thẩm tra để cấp phép đầu tư.
Lẽ ra Chính phủ cần đặt câu hỏi xem đặt ra các thủ tục đăng kí
hay thẩm tra dự án đầu tư như vậy sẽ đạt được mục đích gì, đặc
biệt nếu trong quá trình hoạt động, nhà đầu tư nước ngoài lại
không tuân thủ các cam kết trong hồ sơ đăng kí. Vụ việc Trung
tâm Anh ngữ SITC đã cho thấy những khuyết tật đáng ngờ của cơ
chế tiền kiểm, các loại giấy phép đầu tư đã không cản được SITC
thành lập hàng chục chi nhánh trên toàn quốc, không tuân thủ báo
cáo tài chính, quỵt tiền lương của hàng ngàn giáo viên và tiền
học phí của gần 3 vạn học viên trên 21 tỉnh thành toàn quốc.
Những bài học cay đắng khác với Trường Quốc tế Hà Nội, Trường
Đại học Á Châu đều cảnh báo sự kém hiệu quả của hệ thống tiền
kiểm. Mục đích của việc đăng kí chắc rằng cũng phải giúp bảo vệ
chủ nợ Việt Nam (người làm công, học sinh), bảo vệ môi trường
sống, và xa hơn là cải thiện nỗi lo lạc hậu về công nghệ. Liệu
hệ thống tiền kiểm đã chứng minh được hiệu quả trong gần 20 năm
qua, hay cần phải tính tới những biện pháp can thiệp và phản ứng
hiệu quả hơn của cơ quan nhà nước đối với các dự án đầu tư? Đây
là điều cần khảo cứu kĩ lưỡng hơn trước khi quyết định duy trì
hệ thống tiền kiểm truyền thống.
Tiền kiểm nặng nề sẽ gia tăng chi phí cho cả nhà đầu tư lẫn các
cơ quan quản lý nhà nước. Các biện pháp hậu kiểm lỏng lẻo sẽ tạo
lỗ hổng cho các hành vi lách luật của các nhà đầu tư (moral
hazard) theo hướng có lợi cho mình và làm thiệt hại cho nền kinh
tế quốc gia. Quản lý nhà nước cồng kềnh và chồng chéo làm gia
tăng chi phí quản lý của Nhà nước và làm nguội lạnh nhiệt tình
của nhà đầu tư trong khi lại không chứng tỏ được tính hiệu lực
của mình.
Theo tôi, nên gia tăng cơ chế giám sát sau đăng kí, cưỡng bức
mạnh mẽ trách nhiệm báo cáo, ví dụ như quy trách nhiệm hình sự
nếu giám đốc doanh nghiệp từ chối báo cáo tài chính. Kinh nghiệm
của Anh quốc cho thấy những hình thức can thiệp như tăng cường
nghĩa vụ của doanh nghiệp phải kiểm toán độc lập, buộc kí quỹ,
buộc mua bảo hiểm đối với những dự án có nguy cơ gây hại đến môi
sinh dường như sẽ hiệu quả hơn chỉ là giám sát ban đầu thông qua
báo cáo đánh giá tác động môi trường. Tăng hậu kiểm, làm cho các
hoạt động đầu tư ngày càng có chất lượng, vừa phục vụ tăng
trưởng ổn định, vừa dành dụm các nguồn tài nguyên cho các thế hệ
con cháu, có lẽ nên là một chủ đích lớn của pháp luật Đầu tư.
Ông Phạm Duy Nghĩa, Trưởng bộ môn Luật Kinh doanh
Khoa Luật, Đại học Quốc gia
-
Hiện nay các cơ quan quản lý nhà nước tiếp tục soạn thảo các quy
trình thủ tục theo hướng tăng cường tiền kiểm, nghĩa là xiết
chặt việc kiểm soát ngay từ khi hoạt động kinh doanh còn chưa
bắt đầu. Triết lý của các cơ quan lập pháp dường như vẫn là làm
thế nào để giúp cho các cơ quan quản lý của nhà nước “quản” cho
dễ, chứ chưa thực sự hướng tới quyền lợi hợp pháp và nhu cầu
chính đáng của đối tượng bị điều chỉnh. Đây là triết lý rất sai
lầm. Một nhà nước thực sự vì doanh nghiệp và vì người dân sẽ xử
sự khác. Lấy ví dụ về một số quy định trong Nghị định hướng dẫn
thi hành Luật đầu tư. Thủ tục đăng ký đầu tư mang nặng tính hình
thức. Trên thực tế, giấy chứng nhận đầu tư (GCNĐT) ít có ý nghĩa,
và có lẽ những thông tin về đăng ký đầu tư chủ yếu được dùng vào
mục đích thống kê và báo cáo có tính hành chính, chứ không phải
là để phục vụ mục đích phân tích và ra chính sách. Không những
thế, cơ chế hậu kiểm, vốn quan trọng hơn nhiều so với các biện
pháp tiền kiểm hầu như không đề cập đến. Hiện nay, ước tính trên
thực tế chỉ khoảng 25% số doanh nghiệp đang hoạt động có báo cáo
về hoạt động kinh doanh, và cũng không có cơ chế cưỡng bức đối
với doanh nghiệp không tuân thủ báo cáo. Ngay cả đối với các
công ty đang niêm yết trên thị trường chứng khoán, chế độ báo
cáo (bắt buộc) chưa được thực hiện một cách nghiêm túc. Chất
lượng báo cáo cho cổ đông và cơ quan quản lý nhà nước đều rất
hạn chế, nhiều khi chỉ có tính hình thức để thỏa mãn yêu cầu của
các cơ quan chức năng.
Ông Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc Nghiên cứu
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
-
Theo tôi nên vô hiệu hóa giấy chứng nhận đầu tư. Giấy chứng nhận
đầu tư chỉ mang tính chất hình thức. Tiêu cực hơn, GCNĐT giống
như giấy độc quyền in tiền (anh và chỉ mình anh được quyền xây
dựng một dự án cụ thể). Vì vậy các nhà đầu tư nhiều khi lợi dụng
hình thức này để thu lợi cho mình. Nhà đầu tư không có năng lực
tài chính thực sự có thể vẽ lên một dự án đẹp rồi được cấp đất
và mang dự án đấy đi bán. Đang tồn tại một cơ chế giúp cho những
người chỉ “vẽ” mà kiếm được nhiều tiền.
Các nước khác quản lý các dự án đầu tư nước ngoài giống như các
nhà đầu tư trong nước. Các nhà đầu tư nước ngoài cũng đăng ký
thành lập doanh nghiệp. Nếu họ muốn có đất họ phải thương lượng
với người dân và tiến hành đấu giá đất công khai. Nhà đầu tư nào
trả giá cao thì sẽ được bàn giao đất - có nghĩa là những nhà đầu
tư thực sự có tiềm năng mới được thực hiện các dự án.
Ông Lê Nết, thành viên cố vấn
Văn phòng Luật sư LCT Lawyers
Ông Oliver Massmann, Luật sư Quốc tế
Công ty Luật Baker & McKenzie,Hà Nội
>> Xem thêm
|