|

|
|
|
HƯỚNG DẪN THI HÀNH
Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư
Luật Đầu
tư và Luật Doanh nghiệp được Quốc hội thông qua vào tháng 11 năm
2005 và đã có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2006. Một số mục tiêu
quan trọng nhất của hai đạo luật kinh doanh này là mở rộng quyền tự
do kinh doanh, thu hút đầu tư tư nhân, tăng cường cơ chế hậu kiểm và
tạo một sân chơi bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế. Mới đây chính
phủ đã ban hành một loạt các nghị định hướng dẫn và thành lập Tổ
công tác để giám sát việc thực hiện hai đạo luật này.1
Tuy nhiên cộng đồng doanh nghiệp vẫn lo ngại rằng việc thực thi luật
và nghị định hướng dẫn trên thực tế nhiều khi không thống nhất với
chủ trương trong luật - đây đã là hiện tượng tương đối phổ biến ở
Việt Nam. Bản tin này thảo luận về một số quan ngại của cộng đồng
doanh nghiệp về việc triển khai hai luật này cũng như một số đề xuất
để chính phủ có những biện pháp thực thi hai luật này có hiệu quả
nhất và đạt được những mục tiêu nêu trên.
Quyền tự
do kinh doanh
Mở rộng quyền tự do kinh
doanh để doanh nghiệp có thể đầu tư và hoạt động trong tất cả các
lĩnh vực mà pháp luật không cấm là một trong những nguyên tắc quan
trọng nhất của hai đạo luật này. Tuy nhiên, quyền tự do kinh doanh
này trên thực tế vẫn có nguy cơ bị xâm phạm do nhiều cơ quan công
quyền hiện đang sử dụng giấy phép kinh doanh (GPKD) và điều kiện
kinh doanh (ĐKKD) như một công cụ quản lý nhà nước để kiểm soát
doanh nghiệp. Bất chấp một số nỗ lực cải cách hệ thống GPKD và ĐKKD
trong thời gian vừa qua, việc ban hành GPKD mới và áp đặt các ĐKKD
lại có xu hướng trỗi dậy. Doanh nghiệp vẫn tiếp tục phàn nàn về tình
trạng tồn tại rất nhiều GPKD và ĐKKD bất hợp lý2 và kèm
theo là thủ tục cấp phép thiếu minh bạch, không rõ ràng. Thiết lập
một cơ chế kiểm soát mạnh mẽ chất lượng các GPKD cũng như việc thực
thi các quy định về GPKD là một nhu cầu cấp thiết mà cộng đồng doanh
nghiệp trong và ngoài nước đang đặt ra. Đây phải là một cơ chế
thường xuyên rà soát hệ thống GPKD hiện có cũng như kiểm soát những
GPKD mới ban hành nhằm tôn trọng và đảm bảo quyền tự do kinh doanh.
Đây cũng chính là một trong những nhiệm vụ chính của Tổ công tác.
Tuy nhiên sẽ là một thử thách lớn đối với Tổ công tác vì kinh nghiệm
từ Tổ công tác thi hành Luật doanh nghiệp 1999 cho thấy nỗ lực phát
hiện và đấu tranh để hủy bỏ các GPKD và ĐKKD bất hợp lý đã bị hạn
chế nhiều bởi các cơ quan ban hành (thường là các Bộ) có quyền lực
lớn.
Tiền kiểm
hay hậu kiểm?
Về nguyên tắc, hai luật
mới này sẽ góp phần đơn giản hóa thủ tục đầu tư, cấp phép đầu tư nay
chỉ áp dụng cho những dự án lớn và thủ tục cấp phép được phân cấp
triệt để về địa phương, Tuy nhiên, căn cứ theo Nghị định 108, hầu
hết các dự án đầu tư (cả đầu tư trong nước lẫn đầu tư nước ngoài)
đều sẽ phải đăng ký với cơ quan có thẩm quyền.3 Hiện nay
các nhà đầu tư vẫn chưa có được những thông tin cụ thể về việc quy
trình đăng ký đầu tư sẽ được tiến hành như thế nào, họ tiếp tục e
ngại đây lại là một trở ngại cho những dự án đầu tư mới. Cần có
những hướng dẫn cụ thể và chi tiết hơn để đảm bảo thủ tục này được
thực hiện minh bạch và công khai. Về phía nhà nước, một mặt việc quy
định thêm thủ tục đăng ký đầu tư sẽ tăng thêm gánh nặng công việc
hành chính lên vai các cơ quan quản lý. Mặt khác, quy định phân cấp
cấp phép đầu tư đặt ra đòi hỏi cấp thiết tăng cường năng lực cho các
cơ quan quản lý đầu tư ở các cấp địa phương.
Trong khi đó công tác hậu
kiểm sau cấp phép đầu tư, đăng ký kinh doanh - vốn hết sức quan
trọng thì lại chưa được chú ý đúng mức. Hiện các cơ quan quản lý nhà
nước chỉ theo dõi hoạt động của các nhà đầu tư và doanh nghiệp chủ
yếu thông qua hệ thống báo cáo định kỳ. Cần nhanh chóng thiết lập
một cơ chế hậu kiểm hiệu quả để quản lý và giám sát sự tuân thủ các
quy định kinh doanh và cam kết của các nhà đầu tư, đặc biệt đối với
những dự án có thể có tác động lớn về mặt xã hội và cộng đồng.4
Thu hút
đầu tư tư nhân
Trong một vài năm trở lại
đây, khuyến khích đầu tư vào một số lĩnh vực hạ tầng chủ chốt đã trở
thành một chủ trương lớn của chính phủ. Tuy nhiên do chưa có một
khung pháp lý riêng điều chỉnh việc đầu tư tư nhân vào lĩnh vực phát
triển hạ tầng, các nhà đầu tư không rõ chủ trương trên đang được
thực hiện như thế nào trong thực tế. Hiện nay đầu tư tư nhân vào cơ
sở hạ tầng ở nước ta chủ yếu tập trung trong các lĩnh vực như điện,
cảng, viễn thông, và dầu khí, chủ yếu dưới hình thức BOT, BTO, BT và
hợp đồng hợp tác kinh doanh - BCC. Tuy nhiên cho đến nay vẫn còn rất
ít dự án thành công.5 Ngay cả khi Luật Đầu tư 2005 đã có
hiệu lực, các nhà đầu tư vẫn chưa có thông tin đầy đủ về những lĩnh
vực hạ tầng nào tư nhân được hoặc không được phép đầu tư. Một khung
pháp lý rõ ràng và minh bạch điều chỉnh sự tham gia của khu vực tư
nhân vào các công trình hạ tầng sẽ giúp khuyến khích đầu tư và hoạt
động của khối tư nhân trong lĩnh vực này.
Các nhà đầu tư trong và
ngoài nước đang hy vọng Dự thảo Nghị định BOT, BTO và BT sẽ góp phần
tạo dựng khung pháp lý hoàn chỉnh, tạo điều kiện dễ dàng hơn cho tài
trợ tư nhân trong phát triển hạ tầng. Nghị định sẽ hướng tới một quy
trình đánh giá và lựa chọn thầu minh bạch và công bằng cũng như đơn
giản hóa các thủ tục cấp phép ở cả cấp trung ương và địa phương đối
với việc thực hiện một dự án BOT;6,7 nhờ đó có thể giải
quyết một số vấn đề mấu chốt nhất đang cản trở sự tham gia của đầu
tư tư nhân vào các công trình hạ tầng, và nhờ đó chính sách thu hút
đầu tư tư nhân được thực hiện hiệu quả. Tuy nhiên cũng cần đồng thời
điều chỉnh một số quy định pháp lý ở các lĩnh vực khác liên quan.
Chẳng hạn hiện nay quy định các ngân hàng nước ngoài không được phép
nhận thế chấp là quyền sử dụng đất của doanh nghiệp làm giảm khả
năng tiếp cận nguồn tài trợ các nhà đầu tư BOT. Hay quyền can thiệp
trực tiếp của bên cho vay (quyền tiếp nhận) đối với các dự án hạ
tầng chưa được thừa nhận như là điều kiện đương nhiên đòi hỏi phải
có sự thương thảo đối với từng dự án cụ thể với một số cơ quan Chính
phủ đang khiến các nhà đầu tư ngần ngại tài trợ các dự án hạ tầng.8,9
Sân chơi
chung cho doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế
DNNN, để tham gia vào sân
chơi chung với các doanh nghiệp ĐTNN và doanh nghiệp tư nhân, sẽ
phải hoặc cổ phần hóa hoặc chuyển sang công ty TNHH một thành viên.10
Một khi chuyển đổi, DNNN cũng sẽ phải tuân thủ các quy định về quản
trị doanh nghiệp trong Luật Doanh nghiệp 2005 như đối xử công bằng
với cổ đông, ban giám đốc điều hành phải được trao đủ quyền để điều
hành và quản lý nhân sự của công ty, tuân thủ các quy định về công
bố thông tin. Cho dù DNNN chuyển đổi sang hình thức nào đi chăng nữa
mà không có những quy định rõ ràng về cơ quan hành chính chủ quản (không
tách biệt được chức năng chủ sở hữu với chức năng quản lý hành chính
nhà nước), vẫn không được tự chủ trong việc phát triển kinh doanh và
quản lý nhân sự (không được tự chủ trong việc sử dụng vốn để đạt mục
tiêu chiến lược) thì sẽ chỉ là “bình mới rượu cũ". DNNN sẽ không
thay đổi được động cơ cũng như hiệu quả hoạt động.
Hơn nữa hiện nay rất nhiều
DNNN tồn tại và phát triển một phần do được hưởng ưu đãi, thậm chí
trợ cấp từ nhà nước dưới nhiều hình thức như trợ cấp trực tiếp (như
trợ giá mềm, tín dụng mềm, đánh thuế mềm, và giá hành chính mềm);
các chính sách ưu đãi từ các ngân hàng thương mại nhà nước; và tiếp
cận dễ dàng với các cơ quan chính phủ.11 Vẫn chưa có một sân chơi bình
đẳng thực sự giữa DNNN và khu vực doanh nghiệp tư nhân trong và
ngoài nước. Để tạo được một môi trường cạnh tranh lành mạnh và bình
đẳng giữa các thành phần kinh tế, nhất là khi Việt Nam gia nhập Tổ
chức Thương mại thế giới WTO, những ưu đãi này cần được xóa bỏ và
DNNN cần hoạt động theo đúng các quy luật của thị trường cạnh tranh.
(1) Tổ công tác thi hành Luật Doanh
nghiệp và Luật Đầu tư vừa được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành
lập ngày 25/9/2006.
(2) Số lượng giấy phép kinh doanh gia tăng tương đối nhanh từ 194
năm 2000 lên 246 và 298 vào cuối năm 2004. GPKD và ĐKKD có thể tồn
tại dưới rất nhiều hình thức như Chứng chỉ hành nghề, Giấy chứng
nhận đạt tiêu chuẩn, Giấy chứng nhận đăng ký, Giấy phép, Văn bản
chấp thuận và Thẻ (ví dụ như thẻ hướng dẫn viên du lịch).
(3) Xem Luật Đầu tư 2005 và Nghị định 108 ban hành ngày 22 tháng 9
năm 2006 nhằm hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư 2005.
Theo Nghị định này, các dự án trên 300 tỷ đồng và một loạt các dự án
nằm trong lĩnh vực có điều kiện sẽ phải thẩm tra để cấp phép đầu tư
còn các dự án có vốn nước ngoài dưới 300 tỷ VND thì phải đăng ký đầu
tư!
(4) Vụ việc của Trung tâm Anh ngữ SITC có thể coi là một ví dụ điển
hình về tình hình thức kém hiệu quả của việc cấp phép theo cơ chế
tiền kiểm.
(5) Tony Foster, Sự tham gia của tư nhân vào lĩnh vực hạ tầng, Diễn
đàn Doanh nghiệp Việt Nam 2005
(6) Nghị định về Quy chế đầu tư theo hình thức BOT, BTO và BT là một
trong số các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư 2005, hiện
đang được soạn thảo.
(7) Tony Foster, Tham luận của Nhóm Phát triển Hạ tầng, Diễn đàn
Doanh nghiệp Việt Nam 2005. Danh mục các giấy phép chính cần có cho
một dự án BOT trong ngành năng lượng rất dài. Đối với những dự án
phức tạp hơn, đặc biệt là những dự án có vấn đề về đất đai, thủ tục
cấp phép còn đáng quan ngại hơn nữa.
(8) Quyền tiếp nhận (step-in right) cho phép bên có lợi ích về tài
chính đối với một dự án BOT (chẳng hạn như ngân hàng) được quyền qua
mặt người vay để thanh toán cho các nhà thầu để đảm bảo tiến độ của
dự án.
(9) Tony Foster, Tham luận của Nhóm Phát triển Hạ tầng, Diễn đàn
Doanh nghiệp Việt Nam 2005.
(10) Theo Nghị định về chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty
TNHH theo Luật Doanh nghiệp
(11) Huỳnh Thế Du, Mối quan hệ giữa Nhà nước - Doanh nghiệp nhà nước
- Ngân hàng thương mại Nhà nước ở Việt Nam. |