-
Để làm tốt việc quản lý nhà nước về ngành nghề kinh doanh, cấp
GPKD, đề nghị lưu ý những điểm sau đây. Trước hết, trước khi ban
hành quy định về các loại GPKD, cơ quan có thẩm quyền cần nghiên
cứu một cách thấu đáo xem liệu các giấy phép đó: i) có thể đạt
được mục đích quản lý Nhà nước về ngành kinh doanh tương ứng
không; ii) có phù hợp với việc điều tiết hoạt động kinh doanh
cho ngành nghề đó ở Việt Nam không; iii) có phù hợp với thông lệ
và các cam kết hội nhập quốc tế và khu vực không. Thứ hai, phải
tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp khi thực hiện thủ
tục xin cấp giấy phép, tránh thủ tục hành chính rườm rà, phức
tạp hay những yêu cầu mà doanh nghiệp không thể thực hiện. Thứ
ba, các văn bản pháp luật cần được ban hành một cách thống nhất,
tránh chồng chéo, mâu thuẫn, dẫm đạp lên nhau gây mất phương
hướng cho doanh nghiệp khi thực hiện, đặc biệt các doanh nghiệp
vừa và nhỏ có nguồn nhân lực rất hạn chế.
Ông Nguyễn Thâm, Phó chủ tịch,
Hiệp hội Giao nhận kho vận Việt Nam
-
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các chương trình cải cách theo
hướng rà soát và bãi bỏ GPKD và ĐKKD như lâu nay chỉ mang lại
những thành quả ban đầu. Trong dài hạn cần xây dựng chính sách
chung điều chỉnh việc sử dụng công cụ GPKD cũng như có một thiết
chế giám sát quy trình ban hành và thực thi các quy định về GPKD.
Một nghị định điều chỉnh chi tiết việc soạn thảo, ban hành và
thực hiện các quy định liện quan đến GPKD của các cơ quan nhà
nước là cần thiết khi những nỗ lực rà soát và bãi bỏ các GPKD
hiện hành không còn mang lại kết quả đáng kể nữa.
Mục tiêu chính của nghị định là: i) có một nhận thức thống nhất
về “GPKD”; ii) tạo ra phương pháp luận thống nhất trong việc
soạn thảo, ban hành và thực hiện các quy định về GPKD; nhờ đó,
có thể giám sát có hiệu quả quá trình nói trên; iii) tiêu chuẩn
hoá được về hình thức và nội dung của các quy định về GPKD; iv)
tạo ra được khuôn khổ để các bên có liên quan tham gia một cách
chủ động, công bằng, minh bạch, khách quan và thực chất vào quá
trình soạn thảo và thực hiện các quy định về GPKD. Nghi định này
hoàn toàn không trái với Luật ban hành văn bản quy phạm pháp
luật, mà trái lại bổ sung, nâng cao thêm chất lượng của cả quá
trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc loại này.
Đây cũng là lần đầu tiên các quy trình quốc tế về ban hành một
quy chế hành chính như dự báo đánh giá tác động, tham vấn với
các bên có liên quan và điều trần của chính cơ quan soạn thảo
được quy định bắt buộc đối với soạn thảo và ban hành các quy
định về GPKD. Quy trình này nhằm đảm bảo sự giám sát, đánh giá
khách quan, độc lập và chuyên nghiệp của nhiều bên hữu quan đối
với việc ban hành các quy định này của các cơ quan công quyền.
Ban soạn thảo nhận thấy rằng ở Việt Nam, để thực thi được nghị
định này, cần thành lập một Hội đồng quốc gia về GPKD (giống như
Ủy ban cải cách pháp luật của Hàn Quốc) với chức năng giám sát
việc soạn thảo, thực hiện, vừa trực tiếp phản biện về tính cần
thiết, hợp lý, hiệu quả và đầy đủ của các quy định về GPKD. Hội
đồng sẽ đảm bảo quá trình tham gia, phản biện của các bên có
liên quan một cách khách quan, công bằng và thực chất. Hoạt động
của Hội đồng là “độc lập” với việc thẩm định của Bộ Tư pháp cũng
như các cơ quan thẩm tra khác. Lợi ích mang lại từ việc thành
lập ra một cơ quan mới này là rất lớn (so với phần tăng thêm chi
ngân sách). Cải cách hành chính không phải là “giảm đầu mối,
giảm biên chế”, mà là thiết lập bộ máy hợp lý, hiệu quả và hiệu
lực, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và xã hội.
Sau khi nghị định này được thông qua và có hiệu lực cần có
nghiên cứu, phân tích đánh giá một cách có hệ thống đối với các
loại giấy phép đang có hiệu lực, chỉ ra được chi phí và lợi ích
(costs/ benefits) của từng giấy phép, sự hợp lý và bất hợp lý
của hồ sơ, thủ tục và điều kiện cấp phép, tính hiệu lực của từng
loại giấy phép.
Ông Nguyễn Đình Cung, Trưởng ban Chính sách Kinh tế Vĩ mô,
Viện Quản lý kinh tế Trung Ương
-
Tôi
muốn chia sẻ một số kinh nghiệm mà chính phủ các nước đang phát
triển nên xem xét trong tiến trình cải cách các quy chế hành
chính. Trước hết, để các cải cách về quy chế hành chính (như
GPKD) được thực hiện một cách hiệu quả và thành công, chính phủ
các nước cần chú trọng giảm chi phí tuân thủ và gánh nặng chính
sách mà cộng đồng doanh nghiệp đang phải chịu, đồng thời dùng
tiêu chí này để xác định các ưu tiên cải cách. Thứ hai, cần cải
thiện chất lượng của các quy chế hành chính hơn là giảm số lượng
các quy chế này, cụ thể là: i) các quy định và thủ tục hành
chính cần minh bạch và có thể tiên liệu trước; ii) tỷ lệ tuân
thủ các quy chế hành chính cần được cải thiện; iii) những quy
chế trùng lắp cần được thống nhất lại. Thứ ba, chính phủ cũng
nên xây dựng một hệ thống quản lý chất lượng các quy chế hành
chính. Cần có một cơ quan hay tổ chức hoạt động độc lập để giám
sát và kiểm soát chất lượng của các quy chế và coi đây là một
phần chức năng quản lý hành chính của chính phủ. Ở Hàn Quốc, để
có đủ quyền lực thực hiện cải cách, Ủy ban cải cách Pháp luật
này là do Tổng thống thành lập và chịu sự chỉ đạo trực tiếp từ
Thủ tướng chính phủ. Thành viên của Ủy ban này bao gồm cả quan
chức chính phủ và đại diện của khối học giả, của các ngành nghề
và các nhóm người tiêu dùng. Thứ tư, chính phủ cũng có thể xem
xét những cải cách mang tính triệt để (như công cụ xén quy chế)
để giảm số quy chế hiện hành. Các cơ quan nhà nước phải chứng
minh được sự cần thiết của quy chế hành chính trước Ủy ban cải
cách, nếu không văn bản đó sẽ bị hủy bỏ. Không có bộ nào được
miễn trách nhiệm này.
Ông Jong Seok Kim, Giám đốc,
Jacobs & Associates
-
Nghị
định này sẽ tạo nên dư luận, sức ép công chúng buộc Chính phủ
phải thực hiện cải cách quy chế hành chính và nâng cao tính
trách nhiệm của mình để có sự can thiệp hay có phản ứng khi có ý
kiến từ phía người dân. Tuy nhiên Ban soạn thảo nên xem xét một
số vấn đề sau.
Thứ nhất, về cơ sở pháp lý, một nghị định không thể điều chỉnh
hay bãi bỏ các giấy phép xuất phát từ luật, pháp lệnh hay từ các
nghị định khác. Trong khi đó rất nhiều giấy phép được quy định
tại các luật chuyên ngành như giấy phép về hướng dẫn viên du
lịch do Luật Du lịch quy định, giấy phép về môi giới bất động
sản do Luật Kinh doanh bất động sản v.v.
Thứ hai, việc thành lập một ủy ban lâm thời hay hội đồng quốc
gia về GPKD có thể coi là biện pháp kịp thời nếu chính phủ muốn
thực sự cải cách lĩnh vực này khi chưa có các thiết chế bảo hiến.
Nếu chúng ta có thể học tập cách người Hàn Quốc là lập ra một
thiết chế giám sát (reviewer) mà mọi kênh ban hành giấy phép
phải thông qua nó. Nó có quyền định ra các tiêu chuẩn cho việc
ban hành các giấy phép (ví dụ lợi ích của giấy phép đem lại là
phải cao hơn các chi phí mất đi từ sự hạn chế các quyền tự do
kinh doanh), quy trình ban hành thế nào cho dân chủ và lấy ý
kiến được rộng rãi, xem xét các giấy phép đang có hiện nay hiệu
lực thế nào, giá trị thế nào, có cần cắt giảm hay không. Tuy
nhiên, mọi thiết chế đều chỉ có thể thành công nếu có một chính
phủ mạnh mẽ. Ở Việt Nam thì việc cải cách thường là được thực
hiện trên cơ sở sự đồng thuận và do các sức ép ở dưới lên. Việc
cắt bỏ một giấy phép phải dựa trên sự đồng thuận giữa người muốn
bãi bỏ và người bị bãi bỏ nhưng việc đạt được sự đồng thuận này
là không dễ!
Thứ ba, quy trình “tham vấn” phải là quá trình để làm nổi lên
mọi xung đột lợi ích của các nhóm khác nhau đằng sau một dư luận
về một chính sách nhất định. Để có được một quy trình tham vấn
hiệu quả thì phải có các hiệp hội đủ mạnh để đại diện cho các
nhóm lợi ích khác nhau, phải có cơ chế phản biện hiệu quả từ các
chuyên gia độc lập hay các cơ quan đánh giá giám định độc lập,
phải có một Quốc hội biết lắng nghe các luồng ý kiến khác nhau.
Thứ tư, với quy mô và cách thức làm luật như hiện nay ở nước ta,
một năm Quốc hội có thể cho ra đời 23-24 đạo luật, Chính phủ cho
ra đời đến 200 nghị định, các Bộ và các Ủy ban cho ra đời hàng
nghìn thông tư (tổng số có thể là tới 10-15 nghìn văn bản pháp
quy trong một năm), không một Hội đồng nào đủ năng lực rà soát
từng văn bản xem có sự mâu thuẫn xung đột gì với các văn bản
khác hay không. Giám sát của chính người dân chịu ảnh hưởng của
luật lệ mới là quan trọng nhất. Khi họ thấy có những ảnh hưởng
tới lợi ích hay các quyền của họ thì họ cần có một thiết chế để
kêu lên, yêu cầu, gây sức ép buộc Chính phủ phải phản ứng xem
xét lại những quy định đó. Làm luật không có nghĩa là cho người
dân quyền này quyền kia, mà phải tạo ra sự khống chế cơ quan
công quyền, trên cơ sở người dân giám sát và có quyền khiếu nại
khi cơ quan công quyền xâm hại đến quyền của người dân.
Ông Phạm Duy Nghĩa, Trưởng bộ môn Luật Kinh doanh,
Khoa Luật, Đại học Quốc gia
-
Sự
tham vấn các bên có liên quan, trong đó có các hiệp hội doanh
nghiệp, trong quá trình soạn thảo quy định về GPKD là vô cùng
quan trọng để tạo cơ hội cho những đối tượng bị ảnh hưởng trực
tiếp của giấy phép đóng góp ý kiến phản hồi và loại bỏ những
giấy phép không cần thiết, không hợp lý, tránh tình trạng các
quy định này có hiệu lực, đi vào thực tiễn thấy không ổn thì
phản hồi lúc đó là quá muộn. VAFI đã tham gia góp ý kiến cho một
số dự thảo luật và nghị định quan trọng đối với khối doanh
nghiệp như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư và hiện nay nóng nhất
là Luật Chứng Khoán. Cụ thể đối với Luật Chứng khoán, VAFI đã
kiến nghị UBCKNN về việc hủy bỏ được 17 (trong số 36) giấy phép
không cần thiết trong việc thành lập và hoạt động công ty quản
lý quỹ và công ty kinh doanh chứng khoán vì những quy định này
không phù hợp với thông lệ quốc tế và xâm phạm nghiêm trọng
quyền kinh doanh của nhà đầu tư và chắc chắn có tác động không
tốt đến thị trường chứng khoán.
Ông Nguyễn Hoàng Hải, Tổng thư ký,
Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính (VAFI)
>> Xem thêm
|