TRUNG TÂM THÔNG TIN KINH TẾ - PHÒNG THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Số 14 (17) Tháng 6/2006

   

Giới thiệu
 

Đăng ký và phản hồi
 

SỐ 22
Tiếp cận đất đai
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 21
Tổng công ty đầu tư và
kinh doanh vốn nhà nước
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 20
Đơn giản hoá thủ tục
thành lập doanh nghiệp
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 19
Hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 18
Thành lập doanh nghiệp
ở Việt Nam
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 17
Đơn giản hóa hệ thống
giấy phép kinh doanh
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 16
Hỗ trợ doanh nhân nữ
phát triển
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 15
Trung tâm thông tin
tín dụng tư nhân
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 14
Cải cách
môi trường kinh doanh
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 13
Quản trị doanh nghiệp
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 12
Luật Đầu tư (chung)
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 11
Khu vực kinh tế tư nhân
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 10
Luật Doanh nghiệp
thống nhất
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 9
Ưu đãi đầu tư ở Việt Nam
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 8
Môi trường kinh doanh 2004
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 7
Dịch vụ
phát triển kinh doanh
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 6
Chính quyền địa phương
& Kinh tế tư nhân
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 5
Định giá
doanh nghiệp nhà nước
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 4
Trách nhiệm xã hội
của doanh nghiệp
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 3
Thương hiệu và nhãn hiệu
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 2
Thị trường cổ phiếu
:: Bài viết  :: Thảo luận

 

SỐ 1
Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi
:: Bài viết  :: Thảo luận

 

 

THẢO LUẬN
 
Còn nhiều bất cập trong hệ thống giấy phép và  
điều kiện kinh doanh của Việt Nam  

  • Trong hơn 4 năm qua (kể từ ngày Luật Doanh nghiệp 1999 có hiệu lực thi hành) mỗi tuần lại có một giấy phép mới chính thức được ban hành. Cho đến nay mặc dù có thể xác định được số giấy phép “có tên” (được ban hành chính thức bằng văn bản) thì số giấy phép “không tên” không thể thống kế nổi. Đó là chưa kể chất lượng các quy định về GPKD (ban hành mới và hiện có) là rất thấp do: không hợp lý, không minh bạch, không rõ ràng và cụ thể, không đầy đủ, không thống nhất, không khả thi và không tiên liệu trước được. Nếu xem xét kỹ quy trình tạo ra giấy phép mới và bản chất của một số giấy phép mới được ban hành có thể thấy rất nhiều giấy phép là không cần thiết đang làm tăng chi phí giao dịch (cả về thời gian và tiền bạc), tăng thêm cơ hội cho người có liên quan sách nhiễu, gây phiền hà doanh nghiệp.

    Bên cạnh đó, việc thay thế các giấy phép kinh doanh thành “ĐKKD không cần giấy phép” trong Luật Doanh nghiệp 1999 nhằm mục tiêu làm thay đổi tư duy, phương thức và cách thức quản lý nhà nước về ĐKKD, nhằm giảm chi phí thủ tục hành chính; đồng thời, tăng đáng kể quyền tự do và chủ động kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên trên thực tế, việc kiểm soát và giám sát quá trình tạo ra “ĐKKD không cần giấy phép” còn khó và ít hiệu quả hơn nhiều so với GPKD. Không chỉ Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ (theo đúng thẩm quyền), mà cả các Bộ, Uỷ ban nhân dân các cấp ban hành các văn bản quy định ĐKKD. Số văn bản quy định ĐKKD loại này ngày càng nhiều đang hạn chế đối với hoạt động kinh doanh theo đó cũng gây tốn kém cho doanh nghiệp và quản lý nhà nước. Đó là chưa kể không ít các điều kiện đưa ra là không hợp lý (không rõ mục đích chính đáng cần phải đạt); trái lại, có xu hướng tạo độc quyền kinh doanh cho một số doanh nghiệp, cho một nhóm người đang hoạt động trong ngành đó; tạo đặc quyền cho một số người có liên quan đến việc “hoàn thành” các ĐKKD. Có điều kiện được ban hành không những trái thẩm quyền mà còn chưa có bộ máy, cơ chế và cách thức thực hiện.

Ông Nguyễn Đình Cung, Trưởng ban Chính sách Kinh tế Vĩ mô,
Viện Quản lý kinh tế Trung Ương


  • Khuyết tật lớn nhất trong việc cấp phép ở Việt Nam là tồn tại tư duy coi cấp phép kinh doanh như là điều kiện để được gia nhập thị trường (ex ante), tức là Nhà nước kiểm soát và ngăn chặn từ đầu. Hệ lụy của cách tư duy về việc cấp phép ở Việt Nam là hiệu quả của công việc cấp phép thấp, chi phí hành chính cao, gây trở ngại đối với sự tự do trong kinh doanh. Trong khi đó, ở các nước khác, đây lại là những ĐKKD mà doanh nghiệp phải duy trì thường xuyên trong suốt thời gian kinh doanh (ex post). Chẳng hạn, ở nhiều nước, một người có thể mở cửa hàng ăn mà không cần phải xin cấp phép. Nhưng họ sẽ bị kiểm soát thường xuyên bởi hiệp hội ngành (như phải tham gia các khóa đào tạo về an toàn thực phẩm) hay qua kiểm tra đột xuất về việc tuân thủ các quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm của cơ quan có thẩm quyền.

    Hơn nữa, ở Việt Nam hiện có rất nhiều loại giấy phép, các giấy phép lại được ban hành từ nhiều loại văn bản khác nhau. Các văn bản này còn xung đột và mâu thuẫn lẫn nhau như mâu thuẫn giữa văn bản với luật gốc, giữa văn bản ban hành tại địa phương với văn bản ban hành bởi trung ương, giữa văn bản của các bộ với văn bản của chính phủ. Trong khi đó, Việt Nam chưa có tòa bảo hiến để xem xét tính hợp hiến của các văn bản kiểu này. Tòa bảo hiến mới là nơi giải quyết mâu thuẫn giữa các thể chế quyền lực và xem xét các văn bản pháp lý có hợp lệ hay không, có vi phạm các quy định trong các văn bản cao hơn hay không.

Ông Phạm Duy Nghĩa, Trưởng bộ môn Luật Kinh doanh,
Khoa Luật, Đại học Quốc gia


  • Khi soạn thảo những quy định liên quan đến ngành nghề kinh doanh có điều kiện, dường như các cơ quan chủ quản đã không hiểu hết thực trạng nền kinh tế nên đã đặt ra những điều kiện mà các doanh nghiệp không thể đáp ứng được. Lấy ví dụ về kinh doanh dịch vụ logistics, chủ doanh nghiệp, sau khi đăng ký kinh doanh tại Sở KH&ĐT, phải xin được GPKD vận tải đa phương thức do Bộ Giao thông vận tải cấp, giấy phép đại lý làm thủ tục hải quan do Cục Hải quan cấp và GPKD kho ngoại quan, điểm thông quan ngoài khu vực cửa khẩu và cảng cạn v.v. Tuy nhiên, một chứng từ trong hồ sơ xin cấp phép, doanh nghiệp phải xuất trình được “bản kê khai tài sản của doanh nghiệp do cơ quan tài chính quản lý doanh nghiệp xác nhận”, trong khi trên thực tế ở Việt Nam hầu hết các doanh nghiệp, đặc biệt trong khu vực tư nhân, không có “cơ quan quản lý tài chính của doanh nghiệp”. Mặt khác để đủ điều kiện làm đại lý hải quan, doanh nghiệp phải có một nhân viên làm đại lý hải quan (được cấp chứng chỉ nghiệp vụ hải quan sau khi tham dự một khóa học do cơ quan hải quan tổ chức). Rốt cuộc là mất rất nhiều thời gian doanh nghiệp chẳng xin được giấy phép, nhưng vẫn duy trì hoạt động!

Ông Nguyễn Thâm, Phó chủ tịch,
Hiệp hội Giao nhận kho vận Việt Nam


  • Trong thực tế hiện nay, mặc dù việc cho ra đời giấy phép con đã bị kiểm soát chặt chẽ hơn, không ít trường hợp đã "sáng tạo", "lách luật" bằng cách sử dụng "các công cụ quản lý khác" mà bản chất cũng là những giấy phép con. Trong điều kiện làm luật và lệ của nước ta hiện nay, tuy nghị định do Chính phủ ban hành nhưng lại do các bộ, ngành có liên quan dự thảo. Vì vậy, không ít trường hợp, những ý đồ chủ quan nhằm nâng cao quyền của cơ quan quản lý, phục hồi cơ chế "xin - cho" đã được đưa vào nghị định. Do đó, cần có một Nghị định quy định về quản lý nhà nước đối với ban hành các GPKD.

Luật gia Vũ Xuân Tiền, Giám đốc,
Công ty tư vấn VFAM Việt Nam


  • Khi thiết kế các loại giấy phép, các cơ quan hành pháp phải hết sức thận trọng về sự cần thiết, tác dụng, hậu quả, căn cứ pháp lý của từng loại giấy phép. Chẳng hạn trong Luật Chứng khoán, cần đặt ra những câu hỏi như tại sao lại quy định nhà đầu tư phải xin phép UBCKNN khi mua cổ phần trên 25% vốn điều lệ của công ty đại chúng, đồng thời lại còn yêu cầu có sự chấp thuận của công ty đại chúng; việc xin phép UBCKNN sẽ giúp gì cho doanh nghiệp, cho nhà đầu tư hay không? Hay có giúp nhà nước quản lý được hiệu quả hay không.

 Ông Nguyễn Hoàng Hải, Tổng thư ký,
Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính (VAFI)


  • Theo kinh nghiệm của Tổ công tác thi hành Luật Doanh nghiệp 1999, rà soát và bãi bỏ GPKD không còn cần thiết là một quá trình rất gian nan. Tổ công tác đã đi hầu hết các Bộ, thương thảo từng điều khoản trong giấy phép và thuyết phục các Bộ bãi bỏ điều này điều kia, nhưng hầu hết là các Bộ không tán thành. Các Bộ có quyền lực rất lớn và nếu họ không tán thành việc bãi bỏ giấy phép thì chỉ Tổ công tác không làm gì được.

Luật gia Cao Bá Khoát, Giám đốc,
Công ty cổ phần tư vấn và đào tạo ATYS


>> Xem thêm

Tổ chức và thực hiện: Ban biên tập Trung tâm Thông tin Kinh tế
Địa chỉ: tầng 5, Trung tâm Thương mại Quốc tế, Số 9 Đào Duy Anh, Hà Nội
ĐT: (84-4) 574 3084 - Fax: (84-4) 574 2773 - E-mail: vcci@hn.vnn.vn