-
Trong
hơn 4 năm qua (kể từ ngày Luật Doanh nghiệp 1999 có hiệu lực thi
hành) mỗi tuần lại có một giấy phép mới chính thức được ban hành.
Cho đến nay mặc dù có thể xác định được số giấy phép “có tên” (được
ban hành chính thức bằng văn bản) thì số giấy phép “không tên”
không thể thống kế nổi. Đó là chưa kể chất lượng các quy định về
GPKD (ban hành mới và hiện có) là rất thấp do: không hợp lý,
không minh bạch, không rõ ràng và cụ thể, không đầy đủ, không
thống nhất, không khả thi và không tiên liệu trước được. Nếu xem
xét kỹ quy trình tạo ra giấy phép mới và bản chất của một số
giấy phép mới được ban hành có thể thấy rất nhiều giấy phép là
không cần thiết đang làm tăng chi phí giao dịch (cả về thời gian
và tiền bạc), tăng thêm cơ hội cho người có liên quan sách nhiễu,
gây phiền hà doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, việc thay thế các giấy phép kinh doanh thành “ĐKKD
không cần giấy phép” trong Luật Doanh nghiệp 1999 nhằm mục tiêu
làm thay đổi tư duy, phương thức và cách thức quản lý nhà nước
về ĐKKD, nhằm giảm chi phí thủ tục hành chính; đồng thời, tăng
đáng kể quyền tự do và chủ động kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy
nhiên trên thực tế, việc kiểm soát và giám sát quá trình tạo ra
“ĐKKD không cần giấy phép” còn khó và ít hiệu quả hơn nhiều so
với GPKD. Không chỉ Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính
phủ (theo đúng thẩm quyền), mà cả các Bộ, Uỷ ban nhân dân các
cấp ban hành các văn bản quy định ĐKKD. Số văn bản quy định ĐKKD
loại này ngày càng nhiều đang hạn chế đối với hoạt động kinh
doanh theo đó cũng gây tốn kém cho doanh nghiệp và quản lý nhà
nước. Đó là chưa kể không ít các điều kiện đưa ra là không hợp
lý (không rõ mục đích chính đáng cần phải đạt); trái lại, có xu
hướng tạo độc quyền kinh doanh cho một số doanh nghiệp, cho một
nhóm người đang hoạt động trong ngành đó; tạo đặc quyền cho một
số người có liên quan đến việc “hoàn thành” các ĐKKD. Có điều
kiện được ban hành không những trái thẩm quyền mà còn chưa có bộ
máy, cơ chế và cách thức thực hiện.
Ông Nguyễn Đình Cung, Trưởng ban Chính sách Kinh tế Vĩ mô,
Viện Quản lý kinh tế Trung Ương
-
Khuyết tật lớn nhất trong việc cấp phép ở Việt Nam là tồn tại tư
duy coi cấp phép kinh doanh như là điều kiện để được gia nhập
thị trường (ex ante), tức là Nhà nước kiểm soát và ngăn chặn từ
đầu. Hệ lụy của cách tư duy về việc cấp phép ở Việt Nam là hiệu
quả của công việc cấp phép thấp, chi phí hành chính cao, gây trở
ngại đối với sự tự do trong kinh doanh. Trong khi đó, ở các nước
khác, đây lại là những ĐKKD mà doanh nghiệp phải duy trì thường
xuyên trong suốt thời gian kinh doanh (ex post). Chẳng hạn, ở
nhiều nước, một người có thể mở cửa hàng ăn mà không cần phải
xin cấp phép. Nhưng họ sẽ bị kiểm soát thường xuyên bởi hiệp hội
ngành (như phải tham gia các khóa đào tạo về an toàn thực phẩm)
hay qua kiểm tra đột xuất về việc tuân thủ các quy định về an
toàn vệ sinh thực phẩm của cơ quan có thẩm quyền.
Hơn nữa, ở Việt Nam hiện có rất nhiều loại giấy phép, các giấy
phép lại được ban hành từ nhiều loại văn bản khác nhau. Các văn
bản này còn xung đột và mâu thuẫn lẫn nhau như mâu thuẫn giữa
văn bản với luật gốc, giữa văn bản ban hành tại địa phương với
văn bản ban hành bởi trung ương, giữa văn bản của các bộ với văn
bản của chính phủ. Trong khi đó, Việt Nam chưa có tòa bảo hiến
để xem xét tính hợp hiến của các văn bản kiểu này. Tòa bảo hiến
mới là nơi giải quyết mâu thuẫn giữa các thể chế quyền lực và
xem xét các văn bản pháp lý có hợp lệ hay không, có vi phạm các
quy định trong các văn bản cao hơn hay không.
Ông Phạm Duy Nghĩa, Trưởng bộ môn Luật Kinh doanh,
Khoa Luật, Đại học Quốc gia
-
Khi
soạn thảo những quy định liên quan đến ngành nghề kinh doanh có
điều kiện, dường như các cơ quan chủ quản đã không hiểu hết thực
trạng nền kinh tế nên đã đặt ra những điều kiện mà các doanh
nghiệp không thể đáp ứng được. Lấy ví dụ về kinh doanh dịch vụ
logistics, chủ doanh nghiệp, sau khi đăng ký kinh doanh tại Sở
KH&ĐT, phải xin được GPKD vận tải đa phương thức do Bộ Giao
thông vận tải cấp, giấy phép đại lý làm thủ tục hải quan do Cục
Hải quan cấp và GPKD kho ngoại quan, điểm thông quan ngoài khu
vực cửa khẩu và cảng cạn v.v. Tuy nhiên, một chứng từ trong hồ
sơ xin cấp phép, doanh nghiệp phải xuất trình được “bản kê khai
tài sản của doanh nghiệp do cơ quan tài chính quản lý doanh
nghiệp xác nhận”, trong khi trên thực tế ở Việt Nam hầu hết các
doanh nghiệp, đặc biệt trong khu vực tư nhân, không có “cơ quan
quản lý tài chính của doanh nghiệp”. Mặt khác để đủ điều kiện
làm đại lý hải quan, doanh nghiệp phải có một nhân viên làm đại
lý hải quan (được cấp chứng chỉ nghiệp vụ hải quan sau khi tham
dự một khóa học do cơ quan hải quan tổ chức). Rốt cuộc là mất
rất nhiều thời gian doanh nghiệp chẳng xin được giấy phép, nhưng
vẫn duy trì hoạt động!
Ông Nguyễn Thâm, Phó chủ tịch,
Hiệp hội Giao nhận kho vận Việt Nam
-
Trong thực tế hiện nay, mặc dù việc cho ra đời giấy phép con đã
bị kiểm soát chặt chẽ hơn, không ít trường hợp đã "sáng tạo", "lách
luật" bằng cách sử dụng "các công cụ quản lý khác" mà bản chất
cũng là những giấy phép con. Trong điều kiện làm luật và lệ của
nước ta hiện nay, tuy nghị định do Chính phủ ban hành nhưng lại
do các bộ, ngành có liên quan dự thảo. Vì vậy, không ít trường
hợp, những ý đồ chủ quan nhằm nâng cao quyền của cơ quan quản lý,
phục hồi cơ chế "xin - cho" đã được đưa vào nghị định. Do đó,
cần có một Nghị định quy định về quản lý nhà nước đối với ban
hành các GPKD.
Luật gia Vũ Xuân Tiền, Giám đốc,
Công ty tư vấn VFAM Việt Nam
-
Khi thiết kế các loại giấy phép, các cơ quan hành pháp phải hết
sức thận trọng về sự cần thiết, tác dụng, hậu quả, căn cứ pháp
lý của từng loại giấy phép. Chẳng hạn trong Luật Chứng khoán,
cần đặt ra những câu hỏi như tại sao lại quy định nhà đầu tư
phải xin phép UBCKNN khi mua cổ phần trên 25% vốn điều lệ của
công ty đại chúng, đồng thời lại còn yêu cầu có sự chấp thuận
của công ty đại chúng; việc xin phép UBCKNN sẽ giúp gì cho doanh
nghiệp, cho nhà đầu tư hay không? Hay có giúp nhà nước quản lý
được hiệu quả hay không.
Ông Nguyễn Hoàng Hải, Tổng thư ký,
Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính (VAFI)
-
Theo
kinh nghiệm của Tổ công tác thi hành Luật Doanh nghiệp 1999, rà
soát và bãi bỏ GPKD không còn cần thiết là một quá trình rất
gian nan. Tổ công tác đã đi hầu hết các Bộ, thương thảo từng
điều khoản trong giấy phép và thuyết phục các Bộ bãi bỏ điều này
điều kia, nhưng hầu hết là các Bộ không tán thành. Các Bộ có
quyền lực rất lớn và nếu họ không tán thành việc bãi bỏ giấy
phép thì chỉ Tổ công tác không làm gì được.
Luật gia Cao Bá Khoát, Giám đốc,
Công ty cổ phần tư vấn và đào tạo ATYS
>> Xem thêm
|