-
Có
đáng để đầu tư vào phát triển doanh nghiệp nữ hay không? Câu trả
lời là đáng. ở Mỹ, kể từ khi Luật Doanh nghiệp nữ được ban hành
vào năm 1998, số lượng doanh nghiệp nữ tăng rất nhanh. Những
doanh nghiệp mà hoàn toàn do phụ nữ làm chủ chiếm khoảng 30%
tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập và những doanh nghiệp mà
có sở hữu của phụ nữ trên 50% thì chiếm 48% tổng số doanh nghiệp
đăng ký thành lập.
Tôi cũng muốn chia sẻ ba kinh nghiệm lớn liên quan đến hỗ trợ
doanh nghiệp nữ của Hoa Kỳ cũng như một số quốc gia khác. Thứ
nhất, mặc dù phải thừa nhận là để thành lập một doanh nghiệp,
nam và nữ đều phải thực hiện những bước giống nhau và có thể gặp
những trở ngại như nhau, phụ nữ khi thành lập và phát triển
doanh nghiệp thường phải “vượt qua quả đồi dốc hơn”. Đó là do
những chênh lệch về kinh nghiệm nghề nghiệp, trình độ học vấn,
mức độ khó khăn khi tiếp cận các hỗ trợ cần thiết, thiếu ảnh
hưởng, hay còn có những yếu tố cản trở trong môi trường pháp lý
như chưa có quyền sở hữu đối với tài sản - để họ có thể dùng tài
sản làm thế chấp đi vay vốn ngân hàng. Do vậy, để khuyến khích
phụ nữ tham gia làm kinh tế cần có một số chính sách, chương
trình hỗ trợ riêng cho họ. Những chính sách và chương trình phát
triển doanh nghiệp vừa và nhỏ chung chung thường thu hút được ít
phụ nữ tham gia. Thứ hai, các chương trình đào tạo dành riêng
cho phụ nữ, hỗ trợ kỹ thuật và phát triển mạng lưới kinh doanh
là những hỗ trợ cần thiết và đã được chứng minh đem lại hiệu quả
tốt. Vẫn cần có những chương trình hỗ trợ riêng cho khối doanh
nghiệp nữ vì thường những chương trình này đáp ứng được những
yêu cầu cụ thể và thông tin được truyển tải theo cách thức phù
hợp với nhóm đối tượng cụ thể này. Những chương trình hỗ trợ áp
dụng cho các loại đối tượng doanh nghiệp khác nhau nhiều khi kém
hiệu quả. Tuy nhiên cần thường xuyên theo dõi và đánh giá kết
quả hoạt động và tác động của những chương trình hỗ trợ riêng
này để tiếp tục nâng cao hiệu quả của chúng. Thứ ba, ban hành
một đạo luật mới hay triển khai một chương trình mới là cần
thiết, nhưng chưa phải là điều kiện đủ để các doanh nhân nữ được
hỗ trợ kịp thời và thường xuyên. Cần có sự tham gia của nhiều
thành phần trong xã hội để đảm bảo sự thành công của các chương
trình hỗ trợ riêng này cũng như việc xây dựng và phát triển các
tổ chức hội hay mạng lưới doanh nhân nữ. Sự tham gia này cũng sẽ
góp phần giảm bớt gánh nặng về ngân sách cũng như quản lý của
các cơ quan chính phủ đối với các nỗ lực, chương trình hỗ trợ
phụ nữ làm kinh doanh.
Bà Julie Weeks, Chủ tịch,
Công ty Womenable
(Nguyên là Giám đốc điều hành của Hội đồng Doanh nhân nữ Hoa Kỳ)
-
Việt
Nam nên tham khảo kinh nghiệm ở một số nước, trong đó có Anh
Quốc, khi phát triển các chính sách hỗ trợ sự phát triển của
doanh nghiệp nữ. Theo số liệu của Global Entrepreneurship
Monitor, tỷ lệ doanh nghiệp nữ ở Anh là kém lợi thế so với tỷ lệ
doanh nghiệp do nam làm chủ, đặc biệt nếu so với Mỹ, Canada và
Pháp. Đây là bằng chứng đưa ra của một trong những nghiên cứu
gần đây nhất khiến chính phủ Anh phải thừa nhận rằng doanh
nghiệp nữ cần được hỗ trợ nhiều hơn. Khung chiến lược về Phát
triển doanh nghiệp nữ được Bộ Thương mại và Công nghiệp Anh
(DTI) ban hành vào tháng 5 năm 2003. Khung chiến lược đã khẳng
định “Khuyến khích phụ nữ tham gia nhiều hơn vào thành lập và
phát triển doanh nghiệp có tác động tích cực đến tăng trưởng
kinh tế của quốc gia”. Một trong những mục tiêu chính của Khung
chiến lược là cung cấp những hỗ trợ cần thiết cho các doanh
nghiệp nữ, đặc biệt những phụ nữ đang muốn mở rộng doanh nghiệp
mình cũng như những phụ nữ đang muốn thành lập doanh nghiệp.
Khung chiến lược cũng thừa nhận rằng từ trước đến nay chưa có
một chiến lược dài hạn về phát triển doanh nghiệp nữ và nhấn
mạnh sự cần thiết có những cách tiếp cận khác nhau trong ngắn
hạn, trung hạn và dài hạn để tăng số lượng doanh nghiệp nữ ở
Anh.
Mục tiêu trong ngắn hạn và trung hạn của Khung chiến lược là
phát triển thị trường dịch vụ hỗ trợ kinh doanh và nâng cao chất
lượng các dịch vụ kinh doanh lấy khách hàng làm trọng tâm. Song
song với nỗ lực trên, sẽ tập trung phát triển những dich vụ kinh
doanh đáp ứng được những nhu cầu riêng biệt của khách hàng nữ
hay chỉ phục vụ đối tượng khách hàng nữ. Trong dài hạn, khung
chiến lược sẽ chú trọng vào những thay đổi cơ bản trong nhận
thức của toàn xã hội về phụ nữ làm chủ doanh nghiệp và điều
chỉnh các dịch vụ công để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng
nữ.
Để đạt được những mục tiêu kể trên, Khung chiến lược cũng đặt ra
những chỉ tiêu cụ thể, trong đó chỉ tiêu quan trọng là đến năm
2006 số doanh nghiệp nữ sẽ chiếm từ 18-20% tổng số doanh nghiệp
của Anh (tỷ lệ này vào năm 2003 là 12-14%). Khung chiến lược đưa
ra chương trình hành động cụ thể (cách thức thực hiện và đánh
giá) để đạt được chỉ tiêu đặt ra. Khung chiến lược cũng giao
trách nhiệm hỗ trợ doanh nghiệp nữ cho các cơ quan cụ thể ở cấp
vùng và cấp địa phương. Tính đến cuối năm 2005 doanh nghiệp nữ
đã chiếm 18-19% trên tổng số doanh nghiệp đăng ký ở Anh. Một
cuộc rà soát tác động của Khung chiến lược đang được thực hiện
và một Tổ công tác về các vấn đề của doanh nghiệp nữ vừa mới
được DTI thành lập để trực tiếp chỉ đạo việc thực thi Khung
chiến lược này trong giai đoạn tiếp theo.
Bà Jackie Brierton, Nguyên Tư vấn Phát triển,
Tổ chức PROWESS, Anh Quốc
-
Hỗ trợ doanh nghiệp nữ là một vấn đề thuộc lĩnh vực phát triển
kinh tế mà Dự thảo luật Bình đẳng giới cần cân nhắc kỹ. Con số
khoảng 25% doanh nghiệp nữ trên tổng số doanh nghiệp đang hoạt
động toàn quốc cho thấy sự mất cân bằng trong phát triển đội ngũ
doanh nhân ở Việt Nam và cũng chứng tỏ sự cần thiết phải có
những quy định để hỗ trợ các doanh nhân nữ có điều kiện tiếp cận
các nguồn lực của xã hội như doanh nhân nam, hay nói cách khác
là đội ngũ này cần sự hỗ trợ về tiếp cận thị trường, tiếp cận
nguồn vốn, tiếp cận thông tin, đào tạo v.v. Ngoài ra những
chương trình hỗ trợ doanh nghiệp của Chính phủ phải ưu tiên cho
những hoạt động nhấn mạnh đến việc cân bằng giới.
TS. Phạm Thị Thu Hằng, Phó chủ tịch
Hội đồng Doanh nhân nữ Việt Nam,
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
-
Ở Việt Nam hiện nay,
một thách thức là làm sao để xã hội hiểu rằng nói đến vấn đề
giới không có nghĩa chỉ là vấn đề của phụ nữ. Bất bình đẳng giới
không chỉ là vấn đề xã hội, mà ảnh hưởng trực tiếp đến tăng
trưởng kinh tế và phát triển đất nước theo tiêu chí công bằng,
bền vững. Phụ nữ phải được coi là một lực lượng kinh tế nòng cốt.
Để giảm bớt gánh nặng cho phụ nữ, để chị em có nhiều điều kiện
phát huy năng lực và tinh thần sáng tạo vào các hoạt động kinh
tế sinh ra của cải vật chất cho xã hội, thì riêng phụ nữ đấu
tranh là chưa đủ, mà còn cần, mà cần chủ yếu là sự hiểu biết và
hưởng ứng của toàn xã hội, đặc biệt của nam giới.
Bà Trần Thị Mai Hương, Phó Chủ tịch thường trực,
ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam
>> Xem thêm
|