TRUNG TÂM THÔNG TIN KINH TẾ - PHÒNG THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Số 13 (16) Tháng 4/2006

   

Giới thiệu
 

Đăng ký và phản hồi
 

SỐ 22
Tiếp cận đất đai
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 21
Tổng công ty đầu tư và
kinh doanh vốn nhà nước
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 20
Đơn giản hoá thủ tục
thành lập doanh nghiệp
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 19
Hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 18
Thành lập doanh nghiệp
ở Việt Nam
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 17
Đơn giản hóa hệ thống
giấy phép kinh doanh
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 16
Hỗ trợ doanh nhân nữ
phát triển
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 15
Trung tâm thông tin
tín dụng tư nhân
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 14
Cải cách
môi trường kinh doanh
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 13
Quản trị doanh nghiệp
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 12
Luật Đầu tư (chung)
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 11
Khu vực kinh tế tư nhân
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 10
Luật Doanh nghiệp
thống nhất
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 9
Ưu đãi đầu tư ở Việt Nam
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 8
Môi trường kinh doanh 2004
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 7
Dịch vụ
phát triển kinh doanh
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 6
Chính quyền địa phương
& Kinh tế tư nhân
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 5
Định giá
doanh nghiệp nhà nước
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 4
Trách nhiệm xã hội
của doanh nghiệp
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 3
Thương hiệu và nhãn hiệu
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 2
Thị trường cổ phiếu
:: Bài viết  :: Thảo luận

 

SỐ 1
Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi
:: Bài viết  :: Thảo luận

 

 

HỖ TRỢ DOANH NHÂN NỮ PHÁT TRIỂN
sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Việt Nam

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy ở những quốc gia có đầu tư và thực thi chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp do nữ làm chủ (gọi tắt là Doanh nghiệp nữ) thì ở đó, không những có nhiều doanh nghiệp nữ hơn và tỷ lệ đóng góp của khối doanh nghiệp này trong thu nhập quốc dân cao hơn mà còn làm cho cả nền kinh tế quốc dân mạnh hơn.1 Hiện nay ở Việt Nam doanh nghiệp nữ chiếm khoảng hơn 20% tổng số doanh nghiệp tư nhân đã đăng ký hoạt động ở Việt Nam.2 Tăng cường quyền năng kinh tế cho phụ nữ Việt Nam để họ tham gia nhiều hơn vào các hoạt động kinh tế sẽ có tác động đáng kể đến phát triển kinh tế cũng như xóa đói giảm nghèo ở nước ta. Trong nỗ lực chung này, Chính phủ đang giao cho Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam soạn thảo Luật Bình đẳng giới để trình Quốc hội lấy ý kiến vào tháng 5 tới. Bản tin này sẽ bàn về những rào cản mà doanh nghiệp nữ đang gặp phải cũng như những biện pháp (trong đó có Luật bình đẳng giới) nhằm hỗ trợ sự phát triển doanh nghiệp nữ ở Việt Nam.

Một khung pháp lý hoàn chỉnh về bình đẳng giới sẽ khuyến khích phụ nữ tham gia làm kinh tế.

Quyền bình đẳng giữa nữ và nam đã được khẳng định tại điều 63 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam. ở Việt Nam, liên quan đến lĩnh vực kinh tế, trước pháp luật, phụ nữ cũng đã được hưởng những quyền mà nam giới được hưởng như quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản, quyền đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nhà ở, quyền tự do giao kết hợp đồng và quyền thừa kế v.v. Tuy nhiên do một số yếu tố lịch sử, trên thực tế vẫn còn tồn tại những phân biệt cản trở phụ nữ tham gia các hoạt động kinh tế. Một ví dụ điển hình là rất ít phụ nữ có tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mặc dù Luật hôn nhân và gia đình, Luật đất đai sửa đổi (2003) đã quy định loại giấy này phải ghi cả tên vợ và tên chồng trong trường hợp quyền sử dụng đất là tài sản chung của hai vợ chồng - điều này hạn chế phụ nữ dùng quyền sử dụng đất làm tài sản thế chấp khi đi vay vốn ngân hàng.3

Dự luật bình đẳng giới đang được soạn thảo sẽ đưa ra những nguyên tắc chung về bình đẳng giới, bao gồm cả trong lĩnh vực phát triển kinh doanh và phát triển nghề nghiệp. Dự luật khẳng định nam nữ thành lập và phát triển doanh nghiệp được tạo cơ hội và điều kiện như nhau trong việc tiếp cận nguồn lực, thị trường, công nghệ và các ưu đãi về thuế. Dự luật cũng áp dụng một số biện pháp tạm thời để thu hẹp khoảng cách giới, trong đó có cả những cơ hội đào tạo cho phu nữ. Quan trọng hơn, dự luật sẽ đặt nền tảng để xây dựng một bộ máy giám sát thực thi bình đẳng giới trong xã hội. Cuối cùng, dự luật cũng quy định rằng từ nay trở đi bất kỳ văn bản pháp luật hay chính sách nào có liên quan cũng cần được đánh giá tác động toàn diện về giới trước khi ban hành.

Phụ nữ còn gặp một số khó khăn trong thành lập và phát triển doanh nghiệp

Một khảo sát của IFC-GEM-MPDF4 vừa thực hiện trong năm 2005 với gần 500 chủ doanh nghiệp nữ trên phạm vi toàn quốc khẳng định các chủ doanh nghiệp nữ, phần lớn là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cũng gặp những khó khăn chung như thiếu vốn, thiếu thông tin thị trường, luật pháp và chính sách chưa rõ ràng và thiếu nguồn lao động lành nghề. Mặc dù tiếp cận các nguồn vốn chính thức có thể được coi là khó khăn chung của cả chủ doanh nghiệp nam và nữ, phụ nữ vẫn gặp thiệt thòi nhiều hơn do không đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với tài sản chung của hai vợ chồng cũng như chưa được trang bị kỹ năng xây dựng kế hoạch kinh doanh hoàn chỉnh theo yêu cầu của ngân hàng.

Bên cạnh đó họ còn đối mặt với một số thách thức riêng như: i) thiếu cơ hội được đào tạo về quản lý doanh nghiệp và tài chính, ii) thiếu cơ hội tham gia các mạng lưới kinh doanh và iii) khó khăn khi phải cân bằng giữa công việc và trách nhiệm gia đình và xã hội (nuôi nấng con cái, chăm sóc bố mẹ lớn tuổi và các hoạt động xã hội khác). Một điều tra khác do Viện Các vấn đề Xã hội thực hiện trong năm 2005 (trên 4176 người trong đó 46.5% là nữ) đã khẳng định là phụ nữ có ít cơ hội đào tạo để phát triển chuyên môn hơn nam giới. Tỷ lệ nữ được đào tạo chuyên môn ở tất cả các hình thức như qua trường lớp hoặc đào tạo tại chỗ đều thấp hơn nam giới. Cũng theo điều tra này, tỷ lệ phụ nữ có thu nhập thường xuyên thấp hơn so với nam giới và phụ nữ đang phải dành nhiều thời gian làm các công việc gia đình mà không được trả lương - hạn chế họ tham gia vào các hoạt động đào tạo nâng cao chuyên môn và giao lưu với các doanh nhân khác.5

Nhà nước và xã hội cần nhận thức được rằng doanh nghiệp nữ phát triển sẽ đóng góp vào tăng trưởng kinh tế bền vững của quốc gia.

Các chủ doanh nghiệp nữ trong khảo sát của IFC-GEM-MPDF thể hiện mong muốn là Chính phủ sẽ có những chính sách và chương trình trọng tâm hỗ trợ cho sự phát triển của khối doanh nghiệp do nữ làm chủ ở Việt Nam. Cụ thể là ngay trong Luật bình đẳng giới và những văn bản hướng dẫn thi hành sắp tới, nên thiết kế những chương trình đào tạo kỹ năng kinh doanh dành riêng cho phụ nữ, hỗ trợ việc thành lập các mạng lưới liên kết doanh nghiệp do nữ làm chủ, xây dựng cơ chế bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ, đặc biệt xem xét việc thành lập một hội đồng tư vấn chính phủ về các vấn đề liên quan đến doanh nghiệp do nữ làm chủ.6

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy đầu tư của Chính phủ vào phát triển doanh nghiệp nữ mang lại những lợi ích kinh tế rõ rệt. Một số chính phủ còn bắt đầu xem xét vấn đề bình đẳng giới trong mối liên hệ chặt chẽ với tốc độ tăng trưởng kinh tế. Một điều tra của Ngân hàng Thế giới thực hiện tại Uganda cho thấy Uganda đang bỏ lỡ 0.2% tăng trưởng kinh tế mỗi năm do môi trường chính sách còn nhiều bất bình đẳng đối với phụ nữ.7

Trong thời gian vừa qua, chính phủ của một số nước phát triển và đang phát triển đã bắt đầu nhìn nhận vấn đề phát triển doanh nghiệp do nữ làm chủ một cách chiến lược hơn, đặc biệt chú trọng đến việc cải thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia phát triển kinh tế. Hàn Quốc đã ban hành Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nữ từ năm 1999. ở Canada, chính phủ đã thành lập một tổ công tác đặc biệt về doanh nghiệp nữ do chính Thủ tướng đứng đầu. Tổ công tác này có nhiệm vụ nghiên cứu những thách thức mà chủ doanh nghiệp nữ đang gặp phải, tư vấn cho Thủ tướng những chính sách cần thiết để thúc đẩy hơn nữa những đóng góp của doanh nghiệp do nữ làm chủ đối với nền kinh tế Canada. Tại Anh, một khung chiến lược về phát triển doanh nghiệp nữ được ban hành vào năm 2003 đặt nền móng cho những hỗ trợ lâu dài doanh nghiệp nữ. Tổ công tác đặc biệt về doanh nghiệp nữ cũng vừa chính thức đi vào hoạt động từ đầu năm nay.

Trong quá trình soạn thảo Luật bình đẳng giới và các chính sách thực thi sau này, Việt Nam có thể tham khảo những sáng kiến chính sách này nhằm xây dựng một môi trường kinh doanh thuận lợi khuyến khích phụ nữ đóng góp nhiều hơn vào phát triển kinh tế xã hội. Đã đến lúc vấn đề phát triển doanh nghiệp do nữ làm chủ cần được nhìn nhận một cách chiến lược và toàn diện hơn để phát huy tối đa khả năng đóng góp của phụ nữ đối với phát triển kinh tế xã hội của nước ta.


(1) A. Lundstrom và Stevenson, L., Quá trình phát triển chính sách cho doanh nghiệp, Tổ chức Nghiên cứu Doanh nghiệp nhỏ của Thụy Điển, 2002
(2) Theo ước tính của Hội đồng doanh nhân nữ (VWEC), Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
(3) Ngân hàng Phát triển Châu á (ADB), Phân tích tình hình bình đẳng giới ở Việt Nam, 2005. Cho đến năm 2000, chỉ có 10-12% giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do phụ nữ đứng tên. Một dự án thử nghiệm do Ngân hàng thế giới tài trợ đã giúp tái ban hành lại 35000 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có cả tên vợ và chồng ở 20 xã trên cả nước trong năm 2003-2004. Tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có số liệu thống kê chính thức và cập nhật về số lượng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên toàn quốc do phụ nữ đứng tên.
(4) Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC), Doanh nhân nữ ở Việt Nam: Một khảo sát toàn quốc, tháng 3 năm 2006. Khảo sát do Chương trình Phát triển Kinh tế Tư nhân MPDF và Bộ phận Giới - Doanh nghiệp - Thị trường của IFC đồng thực hiện.
(5) Viện Các vấn đề Xã hội, Khảo sát về giới ở hộ gia đình, 2005. 16,3% nam giới so với 9% nữ giới có cơ hội được đào tạo các kỹ năng qua trường lớp và 14% nam giới so với 9,7% nữ được đào tạo kỹ năng tại nơi làm việc. 67.9% nam giới so với 62.6% nữ giới có thu nhập thường xuyên.
(6) IFC-GEM-MPDF, Doanh nhân nữ ở Việt Nam: Một khảo sát toàn quốc, tháng 3 năm 2006.
(7) Amanda Ellis, Claire Manuel và C. Mark Blackden, Giới và Tăng trưởng Kinh tế ở Uganda: Tăng cường quyền năng cho phụ nữ, Ngân hàng Thế giới, 2005.

Tổ chức và thực hiện: Ban biên tập Trung tâm Thông tin Kinh tế
Địa chỉ: tầng 5, Trung tâm Thương mại Quốc tế, Số 9 Đào Duy Anh, Hà Nội
ĐT: (84-4) 574 3084 - Fax: (84-4) 574 2773 - E-mail: vcci@hn.vnn.vn