|
HỖ TRỢ DOANH NHÂN NỮ PHÁT TRIỂN
sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Việt Nam
Kinh
nghiệm quốc tế cho thấy ở những quốc gia có đầu tư và thực thi chính
sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp do nữ làm chủ (gọi tắt là Doanh
nghiệp nữ) thì ở đó, không những có nhiều doanh nghiệp nữ hơn và tỷ
lệ đóng góp của khối doanh nghiệp này trong thu nhập quốc dân cao
hơn mà còn làm cho cả nền kinh tế quốc dân mạnh hơn.1
Hiện nay ở Việt Nam doanh nghiệp nữ chiếm khoảng hơn 20% tổng số
doanh nghiệp tư nhân đã đăng ký hoạt động ở Việt Nam.2
Tăng cường quyền năng kinh tế cho phụ nữ Việt Nam để họ tham gia
nhiều hơn vào các hoạt động kinh tế sẽ có tác động đáng kể đến phát
triển kinh tế cũng như xóa đói giảm nghèo ở nước ta. Trong nỗ lực
chung này, Chính phủ đang giao cho Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
soạn thảo Luật Bình đẳng giới để trình Quốc hội lấy ý kiến vào tháng
5 tới. Bản tin này sẽ bàn về những rào cản mà doanh nghiệp nữ đang
gặp phải cũng như những biện pháp (trong đó có Luật bình đẳng giới)
nhằm hỗ trợ sự phát triển doanh nghiệp nữ ở Việt Nam.
Một khung
pháp lý hoàn chỉnh về bình đẳng giới sẽ khuyến khích phụ nữ tham gia
làm kinh tế.
Quyền bình đẳng giữa nữ và
nam đã được khẳng định tại điều 63 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam. ở
Việt Nam, liên quan đến lĩnh vực kinh tế, trước pháp luật, phụ nữ
cũng đã được hưởng những quyền mà nam giới được hưởng như quyền tự
do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản, quyền đứng tên trong giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất và nhà ở, quyền tự do giao kết hợp đồng và
quyền thừa kế v.v. Tuy nhiên do một số yếu tố lịch sử, trên thực tế
vẫn còn tồn tại những phân biệt cản trở phụ nữ tham gia các hoạt
động kinh tế. Một ví dụ điển hình là rất ít phụ nữ có tên trên giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất mặc dù Luật hôn nhân và gia đình, Luật
đất đai sửa đổi (2003) đã quy định loại giấy này phải ghi cả tên vợ
và tên chồng trong trường hợp quyền sử dụng đất là tài sản chung của
hai vợ chồng - điều này hạn chế phụ nữ dùng quyền sử dụng đất làm
tài sản thế chấp khi đi vay vốn ngân hàng.3
Dự luật bình đẳng giới
đang được soạn thảo sẽ đưa ra những nguyên tắc chung về bình đẳng
giới, bao gồm cả trong lĩnh vực phát triển kinh doanh và phát triển
nghề nghiệp. Dự luật khẳng định nam nữ thành lập và phát triển doanh
nghiệp được tạo cơ hội và điều kiện như nhau trong việc tiếp cận
nguồn lực, thị trường, công nghệ và các ưu đãi về thuế. Dự luật cũng
áp dụng một số biện pháp tạm thời để thu hẹp khoảng cách giới, trong
đó có cả những cơ hội đào tạo cho phu nữ. Quan trọng hơn, dự luật sẽ
đặt nền tảng để xây dựng một bộ máy giám sát thực thi bình đẳng giới
trong xã hội. Cuối cùng, dự luật cũng quy định rằng từ nay trở đi
bất kỳ văn bản pháp luật hay chính sách nào có liên quan cũng cần
được đánh giá tác động toàn diện về giới trước khi ban hành.
Phụ nữ
còn gặp một số khó khăn trong thành lập và phát triển doanh nghiệp
Một khảo sát của
IFC-GEM-MPDF4 vừa thực hiện trong năm 2005 với gần 500
chủ doanh nghiệp nữ trên phạm vi toàn quốc khẳng định các chủ doanh
nghiệp nữ, phần lớn là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cũng gặp những
khó khăn chung như thiếu vốn, thiếu thông tin thị trường, luật pháp
và chính sách chưa rõ ràng và thiếu nguồn lao động lành nghề. Mặc dù
tiếp cận các nguồn vốn chính thức có thể được coi là khó khăn chung
của cả chủ doanh nghiệp nam và nữ, phụ nữ vẫn gặp thiệt thòi nhiều
hơn do không đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với
tài sản chung của hai vợ chồng cũng như chưa được trang bị kỹ năng
xây dựng kế hoạch kinh doanh hoàn chỉnh theo yêu cầu của ngân hàng.
Bên cạnh đó họ còn đối mặt
với một số thách thức riêng như: i) thiếu cơ hội được đào tạo về
quản lý doanh nghiệp và tài chính, ii) thiếu cơ hội tham gia các
mạng lưới kinh doanh và iii) khó khăn khi phải cân bằng giữa công
việc và trách nhiệm gia đình và xã hội (nuôi nấng con cái, chăm sóc
bố mẹ lớn tuổi và các hoạt động xã hội khác). Một điều tra khác do
Viện Các vấn đề Xã hội thực hiện trong năm 2005 (trên 4176 người
trong đó 46.5% là nữ) đã khẳng định là phụ nữ có ít cơ hội đào tạo
để phát triển chuyên môn hơn nam giới. Tỷ lệ nữ được đào tạo chuyên
môn ở tất cả các hình thức như qua trường lớp hoặc đào tạo tại chỗ
đều thấp hơn nam giới. Cũng theo điều tra này, tỷ lệ phụ nữ có thu
nhập thường xuyên thấp hơn so với nam giới và phụ nữ đang phải dành
nhiều thời gian làm các công việc gia đình mà không được trả lương -
hạn chế họ tham gia vào các hoạt động đào tạo nâng cao chuyên môn và
giao lưu với các doanh nhân khác.5
Nhà nước
và xã hội cần nhận thức được rằng doanh nghiệp nữ phát triển sẽ đóng
góp vào tăng trưởng kinh tế bền vững của quốc gia.
Các chủ doanh nghiệp nữ
trong khảo sát của IFC-GEM-MPDF thể hiện mong muốn là Chính phủ sẽ
có những chính sách và chương trình trọng tâm hỗ trợ cho sự phát
triển của khối doanh nghiệp do nữ làm chủ ở Việt Nam. Cụ thể là ngay
trong Luật bình đẳng giới và những văn bản hướng dẫn thi hành sắp
tới, nên thiết kế những chương trình đào tạo kỹ năng kinh doanh dành
riêng cho phụ nữ, hỗ trợ việc thành lập các mạng lưới liên kết doanh
nghiệp do nữ làm chủ, xây dựng cơ chế bảo lãnh tín dụng cho các
doanh nghiệp nhỏ, đặc biệt xem xét việc thành lập một hội đồng tư
vấn chính phủ về các vấn đề liên quan đến doanh nghiệp do nữ làm
chủ.6
Kinh nghiệm quốc tế cho
thấy đầu tư của Chính phủ vào phát triển doanh nghiệp nữ mang lại
những lợi ích kinh tế rõ rệt. Một số chính phủ còn bắt đầu xem xét
vấn đề bình đẳng giới trong mối liên hệ chặt chẽ với tốc độ tăng
trưởng kinh tế. Một điều tra của Ngân hàng Thế giới thực hiện tại
Uganda cho thấy Uganda đang bỏ lỡ 0.2% tăng trưởng kinh tế mỗi năm
do môi trường chính sách còn nhiều bất bình đẳng đối với phụ nữ.7
Trong thời gian vừa qua,
chính phủ của một số nước phát triển và đang phát triển đã bắt đầu
nhìn nhận vấn đề phát triển doanh nghiệp do nữ làm chủ một cách
chiến lược hơn, đặc biệt chú trọng đến việc cải thiện môi trường
kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia phát triển
kinh tế. Hàn Quốc đã ban hành Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nữ từ năm
1999. ở Canada, chính phủ đã thành lập một tổ công tác đặc biệt về
doanh nghiệp nữ do chính Thủ tướng đứng đầu. Tổ công tác này có
nhiệm vụ nghiên cứu những thách thức mà chủ doanh nghiệp nữ đang gặp
phải, tư vấn cho Thủ tướng những chính sách cần thiết để thúc đẩy
hơn nữa những đóng góp của doanh nghiệp do nữ làm chủ đối với nền
kinh tế Canada. Tại Anh, một khung chiến lược về phát triển doanh
nghiệp nữ được ban hành vào năm 2003 đặt nền móng cho những hỗ trợ
lâu dài doanh nghiệp nữ. Tổ công tác đặc biệt về doanh nghiệp nữ
cũng vừa chính thức đi vào hoạt động từ đầu năm nay.
Trong quá trình soạn thảo
Luật bình đẳng giới và các chính sách thực thi sau này, Việt Nam có
thể tham khảo những sáng kiến chính sách này nhằm xây dựng một môi
trường kinh doanh thuận lợi khuyến khích phụ nữ đóng góp nhiều hơn
vào phát triển kinh tế xã hội. Đã đến lúc vấn đề phát triển doanh
nghiệp do nữ làm chủ cần được nhìn nhận một cách chiến lược và toàn
diện hơn để phát huy tối đa khả năng đóng góp của phụ nữ đối với
phát triển kinh tế xã hội của nước ta.
(1) A. Lundstrom và Stevenson, L., Quá
trình phát triển chính sách cho doanh nghiệp, Tổ chức Nghiên cứu
Doanh nghiệp nhỏ của Thụy Điển, 2002
(2) Theo ước tính của Hội đồng doanh nhân nữ (VWEC), Phòng Thương
mại và Công nghiệp Việt Nam
(3) Ngân hàng Phát triển Châu á (ADB), Phân tích tình hình bình đẳng
giới ở Việt Nam, 2005. Cho đến năm 2000, chỉ có 10-12% giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất do phụ nữ đứng tên. Một dự án thử nghiệm do
Ngân hàng thế giới tài trợ đã giúp tái ban hành lại 35000 giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất có cả tên vợ và chồng ở 20 xã trên cả nước
trong năm 2003-2004. Tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có số liệu thống kê
chính thức và cập nhật về số lượng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
trên toàn quốc do phụ nữ đứng tên.
(4) Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC), Doanh nhân nữ ở Việt Nam: Một
khảo sát toàn quốc, tháng 3 năm 2006. Khảo sát do Chương trình Phát
triển Kinh tế Tư nhân MPDF và Bộ phận Giới - Doanh nghiệp - Thị
trường của IFC đồng thực hiện.
(5) Viện Các vấn đề Xã hội, Khảo sát về giới ở hộ gia đình, 2005.
16,3% nam giới so với 9% nữ giới có cơ hội được đào tạo các kỹ năng
qua trường lớp và 14% nam giới so với 9,7% nữ được đào tạo kỹ năng
tại nơi làm việc. 67.9% nam giới so với 62.6% nữ giới có thu nhập
thường xuyên.
(6) IFC-GEM-MPDF, Doanh nhân nữ ở Việt Nam: Một khảo sát toàn quốc,
tháng 3 năm 2006.
(7) Amanda Ellis, Claire Manuel và C. Mark Blackden, Giới và Tăng
trưởng Kinh tế ở Uganda: Tăng cường quyền năng cho phụ nữ, Ngân hàng
Thế giới, 2005. |