|
TRUNG TÂM THÔNG TIN TÍN DỤNG TƯ NHÂN:
một định chế còn thiếu
để tăng cường tiếp cận tài chính ở Việt Nam
Kinh
nghiệm quốc tế cho thấy ở những quốc gia mà thông tin tín dụng sẵn
có sẽ có nhiều doanh nghiệp và cá nhân tiếp cận được các nguồn tài
chính. Trung tâm thông tin tín dụng (TTTD) tư nhân là một mô hình
đang rất phát triển ở nhiều nước và đã được chứng minh là có thể
giúp tăng cường tiếp cận tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ và cá
nhân. Bản tin này sẽ thảo luận về vai trò của Trung tâm TTTD tư nhân
và những điều kiện cần và đủ để có một trung tâm như vậy hoạt động ở
Việt Nam.
Khái niệm
và vai trò của trung tâm TTTD
Thực tế cho thấy phân bổ
tín dụng kém hiệu quả một phần do các tổ chức tín dụng thiếu thông
tin về người đi vay. Thế chấp thường được sử dụng làm công cụ để bảo
đảm khoản cho vay. Tuy nhiên, việc đòi hỏi thế chấp lại là cản trở
lớn đối với nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và
vừa (DNNVV) và những doanh nghiệp mới thành lập vì họ thường không
có tài sản cố định hoặc không có đủ giấy tờ hợp pháp của tài sản để
thế chấp. Thay vì đòi hỏi thế chấp, một giải pháp khác hiệu quả hơn
đang được tổ chức cho vay ở nhiều nước sử dụng là chỉ phục vụ những
khách hàng có khả năng trả nợ thông qua việc lựa chọn và theo dõi họ
thường xuyên. Giải pháp này đòi hỏi tổ chức cho vay phải nắm được
thông tin về lịch sử thanh toán của những khách hàng tiềm năng khi
ra quyết định cho vay và xác định lãi suất vay. Trung tâm thông tin
tín dụng chính là các tổ chức trung gian đứng ra thu thập, cung cấp
và chia sẻ thông tin cho các tổ chức cho vay, qua đó giúp các tổ
chức này tăng dung lượng cho vay và gián tiếp giúp bên đi vay (doanh
nghiệp và cá nhân) tiếp cận tín dụng dễ dàng hơn.
Ở Việt Nam, mô hình trung
tâm TTTD còn rất mới. Trung tâm thông tin tín dụng trực thuộc Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam (Credit Information Center, viết tắt là CIC)
mới được thành lập từ năm 1999. Nước ta chưa có trung tâm TTTD tư
nhân. Do hạn chế này, phạm vi thu thập thông tin tín dụng ở Việt Nam
là rất hẹp so với ở nước có trung tâm TTTD tư nhân. ở Việt Nam, trên
1000 người trưởng thành thì chỉ có thông tin tín dụng của 11 người -
trong khi đó ở Thái Lan con số này là 184 người và ở úc là 1000
người.1 Đây có thể là một trong những lý do giải thích tại sao DNNVV
và cá nhân ở Việt Nam vẫn còn gặp nhiều rào cản khi tiếp cận tín
dụng.
Trung tâm
TTTD tư nhân giúp loại bớt rào cản tiếp cận tài chính cho DNNVV.
Ở các nước khác, trung tâm
TTTD nhà nước thông thường do Ngân hàng Nhà nước thành lập với mục
đích giám sát các ngân hàng là chính, còn trung tâm TTTD tư nhân
thường được thành lập bởi các tổ chức tín dụng hay những thành viên
tham gia thị trường tín dụng khác để giúp các thành viên chia sẻ
thông tin tín dụng vì mục đích kinh doanh. Các trung tâm TTTD Nhà
nước có xu hướng chỉ thu thập thông tin về các khoản vay giá trị lớn
có thể có ảnh hưởng tổng thể đến nền kinh tế. Những thông tin mà họ
thu thập là từ những tổ chức tài chính thuộc quyền giám sát của Ngân
hàng Nhà nước, do đó thường không bao gồm các định chế tài chính phi
ngân hàng đang rất phát triển như các công ty thuê mua, công ty tài
chính. Hơn nữa, trung tâm TTTD Nhà nước cũng chỉ cung cấp thông tin
tín dụng hiện tại mà không cung cấp thông tin lịch sử thanh toán của
người vay.
Trong khi đó, trung tâm
TTTD tư nhân thu thập thông tin trên phạm vi rộng hơn nhiều, bao gồm
cả những khoản vay của DNNVV và cá nhân. Đặc biệt thông tin được lưu
giữ không chỉ giới hạn ở những khoản vay lớn. Trung tâm TTTD tư nhân
cung cấp thông tin về lịch sử thanh toán của người đi vay và nhiều
dịch vụ khác như công cụ xử lý đơn xin cấp tín dụng, hệ thống chấm
điểm tín dụng v.v. Như vậy, trung tâm TTTD tư nhân mới đáp ứng tốt
nhất các yêu cầu về thông tin tín dụng của các tổ chức cho vay để
phục vụ đối tượng xin vay là DNNVV và cá nhân tốt hơn.
Một điều tra năm 2003 của
Ngân hàng Thế giới ở nhiều nước đã đưa ra những bằng chứng cho thấy
không có mối liên hệ đáng kể nào giữa hoạt động của trung tâm TTTD
Nhà nước với sự giảm bớt các rào cản về tín dụng; trong khi đó với
sự có mặt của trung tâm TTTD tư nhân, rào cản tiếp cận tài chính
giảm bớt một cách rõ rệt và tỷ lệ được cấp tín dụng của doanh nghiệp
nhỏ gia tăng.2 Những phát hiện cụ thể là tỷ lệ % các doanh nghiệp
nhỏ gặp khó khăn về vốn ở những nước có trung tâm TTTD tư nhân là
27% trong khi đó, ở những nơi không có trung tâm này, tỷ lệ này là
49%; xác suất doanh nghiệp nhỏ vay được từ ngân hàng ở những nước có
trung tâm TTTD tư nhân là 40%, cao hơn nhiều ở những nước không có
(28%).
Thị
trường có nhu cầu cấp thiết, đòi hỏi Chính phủ kịp thời hỗ trợ trung
tâm TTTD tư nhân ra đời
Tốc độ tăng trưởng tín
dụng, đặc biệt là tín dụng cho DNNVV và tín dụng tiêu dùng trong
những năm gần đây, đang tạo ra một nhu cầu rất lớn về thông tin tín
dụng mà khả năng và nguồn lực của CIC không thể đáp ứng hết. Trong
một hội thảo gần đây do Ngân hàng Nhà nước phối hợp với IFC-MPDF và
Visa tổ chức, hơn 150 đại diện đến từ các ngân hàng đang hoạt động ở
thị trường Việt Nam đã ủng hộ việc thành lập trung tâm TTTD tư nhân
ở Việt Nam. Nhu cầu thông tin tín dụng về DNVVN và cá nhân tăng cao
không được đáp ứng đang ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động kinh doanh
của các ngân hàng.
Song cần nhận thức rằng
thông tin tín dụng là một lĩnh vực khá nhạy cảm vì nó không chỉ liên
quan đến quyền và trách nhiệm của các tổ chức tín dụng mà còn có thể
ảnh hưởng đến tính riêng tư và bảo mật về dữ liệu của các doanh
nghiệp và cá nhân. ở hầu hết các quốc gia đang phát triển, việc
thành lập trung tâm TTTD tư nhân là một công việc rất khó khăn. Để
có được một trung tâm TTTD tư nhân hoạt động hiệu quả, cần (i) xây
dựng một khuôn khổ pháp lý phù hợp; (ii) có sự cam kết tham gia của
các đối tác liên quan, đặc biệt là các tổ chức tài chính lớn; (iii)
có sự hợp tác giữa khu vực công–tư và sự hiểu biết của toàn xã hội;
và cuối cùng là (iv) tham khảo chuyên môn và kinh nghiệm quốc tế.
Trong gần hai năm qua, Ngân hàng Nhà nước đã quan tâm tới vấn đề này
và tham vấn sự hỗ trợ kỹ thuật từ Công ty Tài chính Quốc tế IFC.
Những nỗ lực này cần được đẩy nhanh hơn nữa để trung tâm TTTD tư
nhân có thể sớm ra đời và hoạt động hiệu quả ở Việt Nam.
(1) Báo cáo toàn cầu về Môi trường
kinh doanh 2006: Tạo việc làm, Ngân hàng Thế giới và Công ty Tài
chính quốc tế (IFC), tháng 9 năm 2005, trang 160, 155 và 112.
(2) Inesa Love và Nataliya Mylenko,“Thông tin tín dụng và các cản
trở về tiếp cận tài chính”, Nghiên cứu chính sách, Ngân hàng Thế
giới, tháng 10 năm 2003. |