-
Cũng cần thay đổi một số quan điểm chưa đúng xung quanh vấn đề
phá sản. Một số nhà lập chính sách vẫn còn "ác cảm" với phá sản
và cho rằng nhờ có phá sản, doanh nghiệp sẽ "xù" được nợ. Quan
niệm đúng về phá sản: phá sản càng nhanh thì mới dễ phục hồi
được doanh nghiệp. Việc thay đổi căn cứ xác định thời điểm doanh
nghiệp lâm vào tình trạng phá sản trong Luật Phá sản 2004 là đi
theo đúng thông lệ quốc tế. Chẳng hạn Luật phá sản của Nhật Bản
quy định "Khi một người mắc nợ ngừng trả tiền thì người đó được
coi là không thể trả được nợ". Tuy nhiên để nhận biết được thời
điểm này chính xác, đội ngũ thẩm phán phải có trình độ cao và có
kinh nghiệm trong lĩnh vực này. Vai trò của các luật sư, đặc
biệt có những người đã có kinh nghiệm quốc tế về phá sản là rất
quan trọng trong giai đoạn hiện nay.
Ông Ngô Cường, Phó Viện trưởng,
Viện Khoa học Xét xử, Tòa án Nhân dân tối cao
-
Luật
Phá sản 2004 đã đưa ra một số quy định mới thuận lợi hơn cho phá
sản doanh nghiệp như tiêu chí xác định phá sản rõ hơn và đơn
giản hơn, đối tượng nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được mở
rộng, quy định trách nhiệm nặng hơn đối với chủ doanh nghiệp và
người quản lý các doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản. Luật Phá sản
2004 có thực sự đi vào cuộc sống hay không vẫn còn là câu hỏi vì
mới được thực thi hơn một năm. Đơn giản hóa để đẩy nhanh quá
trình giải quyết phá sản cho doanh nghiệp còn là một thách thức
vì có rất nhiều yếu tố tác động khó kiểm soát. Chẳng hạn tính
minh bạch về hoạt động tài chính của các doanh nghiệp tư nhân ở
VN rất thấp, nên chưa chắc đã kiểm soát được những thông tin về
tình trạng nợ nần yếu tố quan trọng để xác định tình trạng phá
sản của DN.
Do phá sản là thủ tục tố tụng (đòi hỏi có sự tham gia của tòa án),
nên thủ tục phá sản thường kéo dài thời gian hơn các biện pháp
hành chính khác như giải thể đối với DN tư nhân, giao, bán,
khoán, sát nhập v.v… đối với DNNN. Các biện pháp này chắc chắn
vừa nhanh gọn hơn, vừa giải quyết hiệu quả vấn đề nợ và việc làm
cho người lao động.
Để thực thi Luật Phá sản hiệu quả hơn, cần tiếp tục có những văn
bản hướng dẫn cụ thể về thủ tục tố tụng về phá sản, nâng cao
năng lực của bộ máy tòa án và tổ quản lý và thanh lý tài sản để
làm việc chuyên nghiệp hơn và có kinh nghiệm thực tế nhiều hơn.
Ngoài ra, cũng cần cải thiện khung pháp lý điều chỉnh các biện
pháp hành chính để đóng cửa doanh nghiệp. Đặc biệt với sự phát
triển nhanh chóng của khối doanh nghiệp tư nhân trong một nền
kinh tế thị trường nhiều cạnh tranh, việc chấm dứt một công việc
kinh doanh thất bại để bắt đầu một công việc kinh doanh khác là
hết sức tự nhiên. Các doanh nghiệp này đang cần một hành lang
pháp lý phù hợp để quá trình này diễn ra nhanh chóng, đơn giản
mà vẫn bảo vệ được lợi ích của các bên liên quan. Các cơ chế
giám sát tình hình hoạt động của doanh nghiệp sau ĐKKD cũng là
quan trọng, một mặt giúp ngăn chặn được tình trạng doanh nghiệp
"ma", doanh nghiệp trốn nợ, mặt khác giúp dự báo khả năng giải
thể của doanh nghiệp sớm hơn và tạo một môi trường kinh doanh
lành mạnh, tránh để thiểu số doanh nghiệp "ma", trốn nợ ảnh
hưởng xấu đến các doanh nghiệp đang làm ăn lành mạnh ở VN.
Tiến sĩ Trần Tiến Cường, Trưởng ban Cải cách và Phát triển Doanh
nghiệp,
Viện Quản lý Kinh tế Trung ương
-
Luật Phá sản hiện chưa đi vào cuộc sống. Một đối tượng cần áp
dụng nhất của luật phá sản là DNNN thì vẫn chưa thực hiện được.
Luật Phá sản rất cần và nên tập trung vào áp dụng để đóng cửa
các DNNN không hiệu quả, đã chết trên thực tế. Duy trì các DN
này càng lâu càng làm lãng phí các nguồn lực của xã hội. Còn các
DN tư nhân thì thường muốn thực hiện việc chấm dứt hoạt động
thông qua hình thức giải thể DN để không bị mất thanh danh hay
lòng tin của xã hội và các bạn hàng. Thủ tục giải thể cũng không
quá phức tạp về mặt pháp lý. Họ cũng có thể bắt đầu các công
việc mới nhanh chóng hơn mà không bị dừng hai năm theo các quy
định của Luật Phá sản.
Bà Phạm Chi Lan,
Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ
>> Xem thêm
|