-
Hiện
nay việc thi hành hợp đồng ở Việt Nam vẫn còn vướng mắc vì một
số các lí do sau:
Thứ nhất, vẫn tồn tại 3 luật hợp đồng khác nhau: i) Bộ luật Dân
sự điều chỉnh hợp đồng dân sự; ii) Pháp lệnh Hợp đồng Kinh tế
điều chỉnh hợp đồng kinh tế và iii) Luật Thương mại điều chỉnh
hợp đồng thương mại. Do vậy, các bên có liên quan đến tranh chấp
hợp đồng thường mất nhiều thời gian cãi nhau về việc xác định
tranh chấp này là thuộc về dân sự hay kinh tế để xác định khung
pháp luật điều chỉnh.
Thứ hai, hợp đồng được các bên soạn thảo rất sơ sài do thông lệ
là luật sẽ điều chỉnh các vấn đề còn lại hoặc có thể do các bên
tham gia hợp đồng không biết là có nhiều luật điều chỉnh chế
định hợp đồng. Chính vì vậy khi có tranh chấp xảy ra các bên phụ
thuộc vào quyết định chủ quan của thẩm phán. Việc buộc thực hiện
đúng hợp đồng trở nên phức tạp và khó thực hiện.
Thứ ba, ngay dù khi hợp đồng được soạn thảo một cách chi tiết để
tránh những lỗ hổng của luật pháp, cơ quan công chứng lại thường
yêu cầu các bên điều chỉnh lại hợp đồng và bỏ đi những điều
khoản khung vì cho rằng các điều khoản này đã được điều chỉnh
trong luật.
Thứ tư, quyết định của tòa hay trọng tài thương mại ở Việt Nam
là không dự báo trước được do trình độ và chất lượng xét xử còn
thấp.
Bà Nguyễn Đào, Giám đốc, Johnson Stokes & Master,
Trưởng tiểu ban Đất đai của Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam
-
Việc
đảm bảo thực hiện hợp đồng giữa các doanh nghiệp ở Việt Nam vẫn
còn gặp phải những rào cản cả ở trong pháp luật cũng như trên
thực tế triển khai. Hiện nay chế định về hợp đồng trong pháp
luật Việt Nam còn sơ sài và chưa tương thích với luật pháp và
thông lệ quốc tế. Chính vì vậy có xu hướng các trọng tài viên
quốc tế áp dụng luật pháp và thông lệ quốc tế để xử các vụ tranh
chấp có liên quan đến doanh nghiệp Việt Nam. Việc đưa tất cả các
quy định về hợp đồng vào diện điều chỉnh của Bộ luật dân sự sửa
đổi mà không có chương hợp đồng thương mại trong Luật Thương mại,
các nhà lập pháp chưa đem lại được cho doanh nghiệp một chế định
hợp đồng đầy đủ khi họ giao kết hợp đồng thương mại, đặc biệt là
hợp đồng thương mại quốc tế.
Một câu ngạn ngữ của Phương Tây "Một thỏa hiệp tồi còn hơn một
bản án tốt" đã cho thấy khi có tranh chấp xảy ra, nếu các doanh
nghiệp tự thỏa thuận giải quyết được với nhau thì vẫn tốt hơn so
với việc mang nhau ra cơ quan tài phán (hoặc là tòa án hoặc là
trọng tài). Đưa một tranh chấp ra trước cơ quan tài phán tất
nhiên là sẽ tốn kém cả về mặt thời gian và tiền bạc của cả hai
bên. Hệ thống tòa án của Việt Nam hiện nay là quá tải. Trong
thời gian vừa qua, cũng đã nhiều nỗ lực để cải thiện hệ thống tư
pháp. Bộ Luật tố tụng dân sự 2004 đã tăng thẩm quyền cho tòa án
cấp quận, huyện, đã quy định chi tiết về thời hạn tòa án phải
trả lời nguyên đơn (5 ngày kể từ ngày toà nhận đơn khởi kiện) và
thời hạn chuẩn bị xét xử (2-4 tháng) và đưa vụ việc ra xét xử (sau
1-2 tháng kể từ này ra quyết định xét xử). Việt Nam cũng đang
xem xét việc áp dụng thủ tục xét xử nhanh vụ kiện và tiếp tục
đơn giản hóa các thủ tục ở tòa. Tuy nhiên, những cải cách này
phải đi song song với việc nâng cao năng lực của đội ngũ thẩm
phán. Hơn nữa cần tiếp tục đưa công nghệ thông tin vào hoạt động
của tòa để giảm dần cách làm "thủ công" của một số tòa như hiện
nay để tăng hiệu quả hoạt động, giảm chi phí và thời gian xét xử.
Các doanh nghiệp cần nhận thức được vẫn còn một cơ chế giải
quyết tranh chấp nhanh hơn và hiệu quả hơn - bằng trọng tài
thương mại. Ưu điểm nổi bật của xét xử bằng trọng tài thương mại
so với tòa án ở chỗ nhanh gọn, kín đáo và phán quyết của trọng
tài là có giá trị chung thẩm, tức có hiệu lực cuối cùng và được
cưỡng chế thi hành như phán quyết của tòa án. Pháp lệnh Trọng
tài thương mại 2003 và Pháp lệnh Thi hành án có hiệu lực vào
ngày 1/7/2004 đã tạo một khung pháp lý hoàn chỉnh cho hoạt động
của trọng tài thương mại.
Luật sư TS Phạm Liêm Chính,
Trưởng Văn phòng Luật sư Chính và Cộng sự
-
Pháp luật về hợp đồng của Việt Nam đang có những bước đi quan
trọng. Tất cả các quy định chung về hợp đồng được đưa ra khỏi
Luật Thương mại năm 2005. Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989 hết
hiệu lực vào ngày 1 tháng 1 năm 2006. Các quy định có tính chất
luật chung về hợp đồng đang được quy trong Bộ luật Dân sự năm
2005 tạo niềm tin lớn hơn và tạo điều kiện dễ dàng hơn cho việc
áp dụng pháp luật. Trong Bộ luật Dân sự năm 2005, các quy định
về hợp đồng cũng đang được điều chỉnh theo chiều hướng tốt. Một
số thay đổi quan trọng có thể liệt kê ra đây như: i) hình thức
của hợp đồng chỉ là điều kiện có hiệu lực của HĐ đối với một số
HĐ cụ thể mà luật quy định; ii) điều khoản chủ yếu (chỉ mang
tính hướng dẫn, không ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng nếu
không tuân thủ); iii) chỉ vi phạm đối tượng, mục đích của HĐ mới
ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng; iv) các bên được quyền áp
dụng luật pháp nước ngoài và tập quán quốc tế; v) hai biện pháp
bảo đảm quan trọng nhất là cầm cố và thế chấp đã được quy định
theo nguyên tắc căn cứ vào mức độ rủi ro chứ không căn cứ vào
tiêu chí động sản hay bất động sản nữa; vi) có thể thế chấp tài
sản hình thành trong tương lại.
Ông Nguyễn Am Hiểu, Vụ phó,
Vụ Pháp luật Dân sự Kinh tế, Bộ Tư pháp
Bà Phạm Chi Lan,
Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ
-
Cũng phải thừa nhận rằng mặc dù đã có nhiều nỗ lực cải cách
trong lĩnh vực tư pháp, công tác xét xử các tranh chấp kinh
doanh thương mại của tòa án vẫn còn chưa thực sự hiệu quả. Có
một số lí do làm cho doanh nghiệp không "mặn mà" với tòa án. Thứ
nhất, các công việc của tòa án vẫn còn "thủ công", chưa ứng dụng
nhiều công nghệ thông tin, nên còn nhiều chậm chễ. Thứ hai, tư
duy thẩm phán chưa thích nghi được với kinh tế thị trường, nên
trong quá trình xét xử, các thẩm phán thiên về bảo vệ lợi ích
của Nhà nước hơn là tôn trọng quyền tự do kinh doanh của họ và
giải quyết tranh chấp theo hướng bảo vệ lợi ích của các bên. Thứ
ba, kinh nghiệm giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại
(nhất là về sở hữu trí tuệ, có yếu tố quốc tế) của đội ngũ thẩm
phán còn rất hạn chế nên quyết định của tòa có vẻ không được các
doanh nghiệp phục và tự nguyện thi hành. Thứ tư, vai trò của
luật sư trong các phiên tòa cũng còn hạn chế do chưa lấy được sự
tin tưởng từ thẩm phán và bản thân luật sư trong nước cũng chưa
có nhiều kinh nghiệm đối với các tranh chấp kinh tế thương mại
phức tạp. Pháp luật nước ta thì lại chưa cho phép sử dụng luật
sư nước ngoài tại tòa để tạo điều kiện học hỏi cho cả thẩm phán
và luật sự trong nước. Cuối cùng, ở Việt Nam việc kê khai tài
sản không được thực hiện một cách hiệu quả nên rất khó xác định
được tài sản nào có thể xiết nợ của bị đơn. Do vậy việc thi hành
các quyết định của tòa án hiện nay cũng rất chậm và kém hiệu quả.
Trong thời gian tới, cần thực hiện một rà soát toàn diện về thực
trạng và năng lực giải quyết án/tranh chấp kinh tế của hệ thống
tòa án và trọng tài thương mại để có thể đưa ra được những đề
xuất sửa đổi về chính sách cũng như xây dựng các chương trình
nâng cao năng lực cho đội ngũ thẩm phán và trọng tài viên.
Ông Ngô Cường, Phó Viện trưởng,
Viện Khoa học Xét xử, Tòa án Nhân dân tối cao
>> Xem thêm
|