TRUNG TÂM THÔNG TIN KINH TẾ - PHÒNG THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Số 11 (14) Tháng 12/2005

   

Giới thiệu
 

Đăng ký và phản hồi
 

SỐ 22
Tiếp cận đất đai
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 21
Tổng công ty đầu tư và
kinh doanh vốn nhà nước
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 20
Đơn giản hoá thủ tục
thành lập doanh nghiệp
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 19
Hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 18
Thành lập doanh nghiệp
ở Việt Nam
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 17
Đơn giản hóa hệ thống
giấy phép kinh doanh
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 16
Hỗ trợ doanh nhân nữ
phát triển
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 15
Trung tâm thông tin
tín dụng tư nhân
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 14
Cải cách
môi trường kinh doanh
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 13
Quản trị doanh nghiệp
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 12
Luật Đầu tư (chung)
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 11
Khu vực kinh tế tư nhân
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 10
Luật Doanh nghiệp
thống nhất
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 9
Ưu đãi đầu tư ở Việt Nam
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 8
Môi trường kinh doanh 2004
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 7
Dịch vụ
phát triển kinh doanh
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 6
Chính quyền địa phương
& Kinh tế tư nhân
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 5
Định giá
doanh nghiệp nhà nước
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 4
Trách nhiệm xã hội
của doanh nghiệp
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 3
Thương hiệu và nhãn hiệu
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 2
Thị trường cổ phiếu
:: Bài viết  :: Thảo luận

 

SỐ 1
Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi
:: Bài viết  :: Thảo luận

 

 

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực cải cách,
môi trường kinh doanh ở Việt Nam
vẫn còn chưa thực sự dễ dàng
cho doanh nghiệp

Những nỗ lực của Việt Nam về cải thiện môi trường kinh doanh đã được báo cáo toàn cầu Môi trường Kinh doanh 2006 của Ngân hàng Thế giới ghi nhận khi xếp Việt Nam là một trong số những nước cải cách hàng đầu trong năm qua.1 Đó là những cải cách liên quan đến thủ tục đăng ký kinh doanh (ĐKKD), ban hành Luật phá sản mới và áp dụng các biện pháp đẩy mạnh việc thực thi hợp đồng, giảm chi phí đăng ký và chuyển nhượng bất động sản cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, Việt Nam cần tiếp tục đơn giản hóa pháp luật và quy định kinh doanh để môi trường đầu tư trở nên hấp dẫn hơn. Việc Việt Nam vẫn xếp thứ 99 trên tổng số 155 quốc gia về mức độ dễ dàng của môi trường kinh doanh cho thấy vẫn còn một khoảng cách lớn giữa chủ trương và triển khai thực tế các cải cách nói trên. Bản tin cuối năm này xin điểm lại những nỗ lực cải cách của Việt Nam trong thời gian gần đây, chủ yếu dựa trên những chỉ số của Báo cáo Môi trường Kinh doanh 2006 và đưa ra một số đề xuất tiếp tục cải cách để có một môi trường kinh doanh thân thiện hơn.

Thành lập doanh nghiệp: những quy trình sau ĐKKD vẫn còn phức tạp và gây tốn kém về thời gian và tiền của cho các doanh nghiệp

Một trong những cải cách lớn nhất về môi trường kinh doanh ở Việt Nam là việc ban hành Luật Doanh nghiệp 2000, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đăng ký và thành lập doanh nghiệp. Thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp được đơn giản hóa đã góp phần thúc đẩy đầu tư và tạo thêm nhiều việc làm trong thời gian vừa qua. Tuy nhiên, tính đến tháng 1 năm 2005 một nhà đầu tư vẫn mất 50 ngày và qua 11 thủ tục để thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam. Theo báo cáo về Môi trường Kinh doanh toàn cầu của Ngân hàng thế giới, thủ tục này ở Canada - nước cải cách nhất - là 3 ngày/2 thủ tục và ở Angola - nước ít cải cách nhất - 146 ngày/14 thủ tục. Một khó khăn đối với các cơ quan đăng ký kinh doanh của Việt Nam là chưa quản lý được tên doanh nghiệp một cách đồng bộ và hiệu quả và hậu quả là đã xảy ra nhiều tranh chấp về tên doanh nghiệp. Trong năm 2004, Việt Nam đã rút ngắn được một tuần để thành lập doanh nghiệp do áp dụng hệ thống tra cứu và xác định tên doanh nghiệp trực tuyến.

Trong khi thời gian làm thủ tục ĐKKD đã được rút ngắn, báo cáo gần đây của GTZ-CIEM lại cho thấy các thủ tục hành chính sau ĐKKD là rào cản cho việc thực hiện ý tưởng kinh doanh. Để thực hiện được một ý tưởng kinh doanh, doanh nghiệp sẽ phải hoàn tất 13 thủ tục hành chính với tổng thời gian 260 ngày. Sự chậm trễ trong thủ tục này bắt nguồn từ một số lí do: i) nhiều thủ tục hậu đăng ký chồng chéo và bất hợp lý, trong nhiều trường hợp không tiên liệu được; ii) thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước; iii) quy định pháp luật liên quan còn phức tạp và hay thay đổi; và iv) thái độ thiếu thân thiện của công chức đối với doanh nghiệp.2 Chi phí cho sự chậm trễ này rất lớn, chưa kể đến việc doanh nghiệp phải chịu rất nhiều khoản chi phí ngoài lề. Ngoài ra, giấy phép kinh doanh và các điều kiện kinh doanh khác ngày càng tăng (do sự xuất hiện của nhiều giấy phép mới và tái xuất hiện dưới các hình thức khác của những giấy phép đã từng bị hủy bỏ) cũng là một trở ngại lớn.3

Cũng theo báo cáo trên, để giảm thời gian và chi phí thành lập doanh nghiệp cần phải i) công khai các thông tin về thủ tục thành lập doanh nghiệp cho toàn thể cộng đồng kinh doanh, ii) loại bỏ các thủ tục hành chính không cần thiết và các loại phí không chính thức, iii) thực hiện triệt để việc rà soát lại toàn bộ hệ thống giấy phép và điều kiện kinh doanh dựa trên mối quan hệ vốn-lãi (cost-benefit) và iv) đưa ra được một chính sách nhất quán đối với việc ban hành các giấy phép và ĐKKD mới.

Đăng ký bất động sản: khó khăn trong việc được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chính thức đang cản trở doanh nghiệp tiếp cận đất đai cũng như tài chính cho phát triển kinh doanh.

Luật Đất đai năm 2003 đã đem lại một số thay đổi có lợi cho doanh nghiệp. Các thủ tục đăng ký bất động sản được thực hiện nhanh hơn do có hệ thống cơ quan đăng ký quyền sử dụng đất từ cấp huyện và quy định thời hạn cho từng thủ tục. Thời gian đăng ký bất động sản đã giảm được 11 ngày (từ 78 ngày xuống còn 67 ngày). Chi phí đăng ký bất động sản cũng giảm xuống còn 1,2% giá trị của tài sản (thay vì 5,5% trong năm 2003), giảm 4% thuế chuyển nhượng quyền SDĐ đối với doanh nghiệp. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn xếp thứ 39 trong 155 quốc gia về mức độ dễ dàng trong đăng ký bất động sản, so với New Zealand, nước cải cách nhất (chỉ mất 2 ngày/2 thủ tục và chi phí bằng 0,1% giá trị tài sản) hay với Thái Lan, nước láng giềng của Việt Nam (chỉ mất 2 ngày/2 thủ tục).

Tiếp cận đất đai vẫn là một mối lo lắng lớn của khu vực doanh nghiệp tư nhân Việt Nam. Theo khảo sát của GTZ/CIEM,4 một doanh nghiệp phải mất 230 ngày và 7 thủ tục để có được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay thuê đất. Hệ quả tất yếu là nhiều doanh nghiệp đang sử dụng đất cũng không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khoảng 70% các giao dịch chuyển quyền sử dụng đất được thực hiện ở thị trường ngầm. Do vậy, các tài sản chuyển nhượng này sẽ không được thế chấp tại ngân hàng để vay tiền, tức là sẽ hạn chế khả năng tiếp cận tài chính và cơ hội phát triển của doanh nghiệp. Thiếu chứng nhận quyền sử dụng đất và các biện pháp bảo đảm kèm theo, doanh nghiệp sẽ đầu tư ít đi, còn ngân hàng thì cho vay dè dặt hơn. Cần phải có nỗ lực lớn để Luật Đất đai được thi hành có hiệu quả, tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính và chi phí về đất đai.

Thực thi hợp đồng: Cơ chế giải quyết tranh chấp và cưỡng chế thực thi hợp đồng kém hiệu quả đang hạn chế việc ký kết hợp đồng kinh doanh giữa các doanh nghiệp.

Hợp đồng đem lại lợi ích cho tất cả các loại doanh nghiệp: tạo cơ hội thị trường và tăng cường khả năng cạnh tranh... ở Việt Nam, số lượng hợp đồng kinh doanh vẫn còn quá ít ỏi so với tiềm năng vốn có do cơ chế thực thi hợp đồng thiếu hiệu quả đang làm cho các quan hệ hợp đồng ít hấp dẫn đối với doanh nghiệp. Theo một báo cáo gần đây của Ngân hàng thế giới, các doanh nghiệp nói chung ít tin tưởng vào hệ thống pháp luật của Việt Nam trong việc giải quyết tranh chấp hay cưỡng chế thực hiện hợp đồng. Chính vì thực hiện hợp đồng kém, các doanh nghiệp thường sử dụng một số chiến lược giảm thiểu rủi ro, thích hợp tác với những đối tác đã quen biết. Lấy ví dụ tại Hà Nội, nơi tập trung khoảng 10.000 doanh nghiệp, các tòa kinh tế chỉ giải quyết 70 vụ trong năm 2003, trọng tài thương mại thì giải quyết khoảng 20 vụ.5

Việt Nam đang có những nỗ lực cải cách thủ tục thực hiện hợp đồng. Thời gian để thực hiện một hợp đồng đã giảm hai tháng sau khi Bộ Luật Tố tụng dân sự (2004) được ban hành, theo đó tòa án cấp quận/huyện có thể xử các vụ án trên 50 triệu đồng. Tuy nhiên vẫn mất 343 ngày (giảm từ 403 ngày trong năm 2003), qua 37 thủ tục8 - là nước đòi hỏi nhiều thủ tục nhất trong khu vực Đông á - để cưỡng chế thực hiện được một hợp đồng với chi phí bằng 30% giá trị đòi nợ.9 Các cải cách tiếp theo đang được triển khai để cải thiện cơ chế thực hiện hợp đồng là: i) đồng bộ hóa các quy định pháp luật về hợp đồng thương mại; ii) thực hiện xét xử rút gọn và đơn giản hóa các quy trình của tòa; và iii) tăng cường năng lực cho đội ngũ thẩm phán và phát triển trọng tài thương mại.10

Đóng cửa doanh nghiệp: Thủ tục phá sản đã được đơn giản hóa để giúp các doanh nghiệp thất bại rút khỏi thị trường dễ dàng hơn

Trong kinh tế thị trường, đóng cửa doanh nghiệp là việc làm hết sức bình thường để tái phân phối nguồn lực vào những nơi sử dụng hiệu quả hơn. Một trong những công cụ thực hiện là pháp luật về phá sản, nhằm đóng cửa các doanh nghiệp hết khả năng và cứu những doanh nghiệp vẫn còn khả năng tồn tại. Tuy nhiên doanh nghiệp Việt Nam hiếm khi sử dụng thủ tục phá sản. Kể từ khi Luật Phá sản ban hành vào năm 1993 đến nay mới chỉ có 45 doanh nghiệp tuyên bố phá sản. Sau khi được sửa đổi vào năm 2004, Luật Phá sản của Việt Nam đã làm cho việc yêu cầu phá sản doanh nghiệp dễ dàng hơn. Hiện chỉ cần một điều kiện: doanh nghiệp không có khả năng trả nợ đến hạn khi có yêu cầu (trước đây, doanh nghiệp phải chịu lỗ 2 năm liên tiếp và cố gắng tái cơ cấu không thành). Một thay đổi khác là các chủ nợ có bảo đảm được xếp ưu tiên trước cơ quan thuế. Các cải cách này hy vọng sẽ giảm bớt 6 tháng cho một thủ tục phá sản. Và tỷ lệ thu hồi sẽ tăng từ 16 xu một đô la lên 19 xu.11 Mặc dù đây là tỷ lệ thấp nhất thế giới, tỷ lệ này có thể được tăng lên nếu các cải cách sắp tới hướng trọng tâm vào hoàn thiện quá trình giải thể và thanh lý doanh nghiệp. Thanh lý doanh nghiệp bảo vệ được lợi ích của các bên vì việc bán cả doanh nghiệp cho một người chủ mới và doanh nghiệp vẫn được tiếp tục vận hành sẽ tăng khả năng thu hồi nợ cho các chủ nợ và duy trì việc làm cho người lao động.


(1) Số liệu cho tất cả các bộ chỉ số trong báo cáo này được tính đến tháng 1 năm 2005. Báo cáo toàn cầu về Môi trường kinh doanh 2006: Tạo việc làm, Ngân hàng Thế giới và Công ty Tài chính quốc tế (IFC), tháng 9 năm 2005.
(2) Từ ý tưởng Kinh doanh đến Hiện thực: chặng đường gian nan, GTZ/CIEM, tháng 7/2005.
(3) Tổng quan về Giấy phép kinh doanh ở Việt Nam, Nguyễn Thị Thu Trang, Báo cáo của Ngân hàng Phát triển Châu á (ADB), tháng 9 năm 2005.
(4) Xem ý tưởng Kinh doanh đến Hiện thực: chặng đường gian nan, như trên
(5) Thúc đẩy quan hệ hợp đồng kinh doanh giữa các doanh nghiệp ở Việt Nam, Phân tích chính sách phát triển khu vực tư nhân, Ngân hàng thế giới , tháng 1/2005
(8) Thời gian cần để giải quyết một tranh chấp được tính theo ngày, kể từ khi nguyên đơn nộp đơn kiện đến tòa án cho đến khi khoản nợ được thanh toán. Xem Báo cáo toàn cầu về Môi trường kinh doanh 2006.
(9) Chỉ số chi phí đo các chi phí chính thức trang trải cho các thủ tục của tòa bao gồm chi phí tòa, phí luật sư tại các nước mà việc sử dụng luật sư là bắt buộc hoặc phổ biến, hoặc các chi phí hành chính cho việc thu nợ, thể hiện trên % của giá trị nợ. Xem Báo cáo toàn cầu về Môi trường kinh doanh 2006.
(10) Xem Thúc đẩy quan hệ hợp đồng kinh doanh giữa các doanh nghiệp ở Việt Nam và Báo cáo toàn cầu về Môi trường kinh doanh 2006, như trên
(11) Tỷ lệ thu hồi đo hiệu quả của việc tịch thu tài sản hoặc thủ tục phá sản. Nó ước tính bao nhiêu cent trên một đô la đòi nợ - các chủ nợ, cơ quan thuế và các nhân viên thu hồi từ công ty mất khả năng thanh toán. Xem Báo cáo toàn cầu về Môi trường kinh doanh 2006

Tổ chức và thực hiện: Ban biên tập Trung tâm Thông tin Kinh tế
Địa chỉ: tầng 5, Trung tâm Thương mại Quốc tế, Số 9 Đào Duy Anh, Hà Nội
ĐT: (84-4) 574 3084 - Fax: (84-4) 574 2773 - E-mail: vcci@hn.vnn.vn