|
Mặc dù đã có nhiều nỗ lực cải cách,
môi trường kinh doanh ở Việt Nam
vẫn còn chưa thực sự dễ dàng
cho doanh nghiệp
Những nỗ
lực của Việt Nam về cải thiện môi trường kinh doanh đã được báo cáo
toàn cầu Môi trường Kinh doanh 2006 của Ngân hàng Thế giới ghi nhận
khi xếp Việt Nam là một trong số những nước cải cách hàng đầu trong
năm qua.1 Đó là những cải cách liên quan đến thủ tục đăng
ký kinh doanh (ĐKKD), ban hành Luật phá sản mới và áp dụng các biện
pháp đẩy mạnh việc thực thi hợp đồng, giảm chi phí đăng ký và chuyển
nhượng bất động sản cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, Việt Nam cần tiếp
tục đơn giản hóa pháp luật và quy định kinh doanh để môi trường đầu
tư trở nên hấp dẫn hơn. Việc Việt Nam vẫn xếp thứ 99 trên tổng số
155 quốc gia về mức độ dễ dàng của môi trường kinh doanh cho thấy
vẫn còn một khoảng cách lớn giữa chủ trương và triển khai thực tế
các cải cách nói trên. Bản tin cuối năm này xin điểm lại những nỗ
lực cải cách của Việt Nam trong thời gian gần đây, chủ yếu dựa trên
những chỉ số của Báo cáo Môi trường Kinh doanh 2006 và đưa ra một số
đề xuất tiếp tục cải cách để có một môi trường kinh doanh thân thiện
hơn.
Thành lập doanh nghiệp:
những quy trình sau ĐKKD vẫn còn phức tạp và gây tốn kém về thời
gian và tiền của cho các doanh nghiệp
Một trong những cải cách
lớn nhất về môi trường kinh doanh ở Việt Nam là việc ban hành Luật
Doanh nghiệp 2000, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đăng ký và thành
lập doanh nghiệp. Thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp được đơn
giản hóa đã góp phần thúc đẩy đầu tư và tạo thêm nhiều việc làm
trong thời gian vừa qua. Tuy nhiên, tính đến tháng 1 năm 2005 một
nhà đầu tư vẫn mất 50 ngày và qua 11 thủ tục để thành lập doanh
nghiệp ở Việt Nam. Theo báo cáo về Môi trường Kinh doanh toàn cầu
của Ngân hàng thế giới, thủ tục này ở Canada - nước cải cách nhất -
là 3 ngày/2 thủ tục và ở Angola - nước ít cải cách nhất - 146 ngày/14
thủ tục. Một khó khăn đối với các cơ quan đăng ký kinh doanh của
Việt Nam là chưa quản lý được tên doanh nghiệp một cách đồng bộ và
hiệu quả và hậu quả là đã xảy ra nhiều tranh chấp về tên doanh
nghiệp. Trong năm 2004, Việt Nam đã rút ngắn được một tuần để thành
lập doanh nghiệp do áp dụng hệ thống tra cứu và xác định tên doanh
nghiệp trực tuyến.
Trong khi thời gian làm
thủ tục ĐKKD đã được rút ngắn, báo cáo gần đây của GTZ-CIEM lại cho
thấy các thủ tục hành chính sau ĐKKD là rào cản cho việc thực hiện ý
tưởng kinh doanh. Để thực hiện được một ý tưởng kinh doanh, doanh
nghiệp sẽ phải hoàn tất 13 thủ tục hành chính với tổng thời gian 260
ngày. Sự chậm trễ trong thủ tục này bắt nguồn từ một số lí do: i)
nhiều thủ tục hậu đăng ký chồng chéo và bất hợp lý, trong nhiều
trường hợp không tiên liệu được; ii) thiếu sự phối hợp giữa các cơ
quan nhà nước; iii) quy định pháp luật liên quan còn phức tạp và hay
thay đổi; và iv) thái độ thiếu thân thiện của công chức đối với
doanh nghiệp.2 Chi phí cho sự chậm trễ này rất lớn, chưa
kể đến việc doanh nghiệp phải chịu rất nhiều khoản chi phí ngoài lề.
Ngoài ra, giấy phép kinh doanh và các điều kiện kinh doanh khác ngày
càng tăng (do sự xuất hiện của nhiều giấy phép mới và tái xuất hiện
dưới các hình thức khác của những giấy phép đã từng bị hủy bỏ) cũng
là một trở ngại lớn.3
Cũng theo báo cáo trên, để
giảm thời gian và chi phí thành lập doanh nghiệp cần phải i) công
khai các thông tin về thủ tục thành lập doanh nghiệp cho toàn thể
cộng đồng kinh doanh, ii) loại bỏ các thủ tục hành chính không cần
thiết và các loại phí không chính thức, iii) thực hiện triệt để việc
rà soát lại toàn bộ hệ thống giấy phép và điều kiện kinh doanh dựa
trên mối quan hệ vốn-lãi (cost-benefit) và iv) đưa ra được một chính
sách nhất quán đối với việc ban hành các giấy phép và ĐKKD mới.
Đăng ký
bất động sản: khó khăn trong việc được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất chính thức đang cản trở doanh nghiệp tiếp cận đất đai cũng
như tài chính cho phát triển kinh doanh.
Luật Đất đai năm 2003 đã
đem lại một số thay đổi có lợi cho doanh nghiệp. Các thủ tục đăng ký
bất động sản được thực hiện nhanh hơn do có hệ thống cơ quan đăng ký
quyền sử dụng đất từ cấp huyện và quy định thời hạn cho từng thủ tục.
Thời gian đăng ký bất động sản đã giảm được 11 ngày (từ 78 ngày
xuống còn 67 ngày). Chi phí đăng ký bất động sản cũng giảm xuống còn
1,2% giá trị của tài sản (thay vì 5,5% trong năm 2003), giảm 4% thuế
chuyển nhượng quyền SDĐ đối với doanh nghiệp. Tuy nhiên, Việt Nam
vẫn xếp thứ 39 trong 155 quốc gia về mức độ dễ dàng trong đăng ký
bất động sản, so với New Zealand, nước cải cách nhất (chỉ mất 2 ngày/2
thủ tục và chi phí bằng 0,1% giá trị tài sản) hay với Thái Lan, nước
láng giềng của Việt Nam (chỉ mất 2 ngày/2 thủ tục).
Tiếp cận đất đai vẫn là
một mối lo lắng lớn của khu vực doanh nghiệp tư nhân Việt Nam. Theo
khảo sát của GTZ/CIEM,4 một doanh nghiệp phải mất 230
ngày và 7 thủ tục để có được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay
thuê đất. Hệ quả tất yếu là nhiều doanh nghiệp đang sử dụng đất cũng
không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khoảng 70% các giao dịch
chuyển quyền sử dụng đất được thực hiện ở thị trường ngầm. Do vậy,
các tài sản chuyển nhượng này sẽ không được thế chấp tại ngân hàng
để vay tiền, tức là sẽ hạn chế khả năng tiếp cận tài chính và cơ hội
phát triển của doanh nghiệp. Thiếu chứng nhận quyền sử dụng đất và
các biện pháp bảo đảm kèm theo, doanh nghiệp sẽ đầu tư ít đi, còn
ngân hàng thì cho vay dè dặt hơn. Cần phải có nỗ lực lớn để Luật Đất
đai được thi hành có hiệu quả, tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành
chính và chi phí về đất đai.
Thực thi
hợp đồng: Cơ chế giải quyết tranh chấp và cưỡng chế thực thi hợp
đồng kém hiệu quả đang hạn chế việc ký kết hợp đồng kinh doanh giữa
các doanh nghiệp.
Hợp đồng đem lại lợi ích
cho tất cả các loại doanh nghiệp: tạo cơ hội thị trường và tăng
cường khả năng cạnh tranh... ở Việt Nam, số lượng hợp đồng kinh
doanh vẫn còn quá ít ỏi so với tiềm năng vốn có do cơ chế thực thi
hợp đồng thiếu hiệu quả đang làm cho các quan hệ hợp đồng ít hấp dẫn
đối với doanh nghiệp. Theo một báo cáo gần đây của Ngân hàng thế
giới, các doanh nghiệp nói chung ít tin tưởng vào hệ thống pháp luật
của Việt Nam trong việc giải quyết tranh chấp hay cưỡng chế thực
hiện hợp đồng. Chính vì thực hiện hợp đồng kém, các doanh nghiệp
thường sử dụng một số chiến lược giảm thiểu rủi ro, thích hợp tác
với những đối tác đã quen biết. Lấy ví dụ tại Hà Nội, nơi tập trung
khoảng 10.000 doanh nghiệp, các tòa kinh tế chỉ giải quyết 70 vụ
trong năm 2003, trọng tài thương mại thì giải quyết khoảng 20 vụ.5
Việt Nam đang có những nỗ
lực cải cách thủ tục thực hiện hợp đồng. Thời gian để thực hiện một
hợp đồng đã giảm hai tháng sau khi Bộ Luật Tố tụng dân sự (2004)
được ban hành, theo đó tòa án cấp quận/huyện có thể xử các vụ án
trên 50 triệu đồng. Tuy nhiên vẫn mất 343 ngày (giảm từ 403 ngày
trong năm 2003), qua 37 thủ tục8 - là nước đòi hỏi nhiều
thủ tục nhất trong khu vực Đông á - để cưỡng chế thực hiện được một
hợp đồng với chi phí bằng 30% giá trị đòi nợ.9 Các cải
cách tiếp theo đang được triển khai để cải thiện cơ chế thực hiện
hợp đồng là: i) đồng bộ hóa các quy định pháp luật về hợp đồng
thương mại; ii) thực hiện xét xử rút gọn và đơn giản hóa các quy
trình của tòa; và iii) tăng cường năng lực cho đội ngũ thẩm phán và
phát triển trọng tài thương mại.10
Đóng cửa
doanh nghiệp: Thủ tục phá sản đã được đơn giản hóa để giúp các doanh
nghiệp thất bại rút khỏi thị trường dễ dàng hơn
Trong kinh tế thị trường,
đóng cửa doanh nghiệp là việc làm hết sức bình thường để tái phân
phối nguồn lực vào những nơi sử dụng hiệu quả hơn. Một trong những
công cụ thực hiện là pháp luật về phá sản, nhằm đóng cửa các doanh
nghiệp hết khả năng và cứu những doanh nghiệp vẫn còn khả năng tồn
tại. Tuy nhiên doanh nghiệp Việt Nam hiếm khi sử dụng thủ tục phá
sản. Kể từ khi Luật Phá sản ban hành vào năm 1993 đến nay mới chỉ có
45 doanh nghiệp tuyên bố phá sản. Sau khi được sửa đổi vào năm 2004,
Luật Phá sản của Việt Nam đã làm cho việc yêu cầu phá sản doanh
nghiệp dễ dàng hơn. Hiện chỉ cần một điều kiện: doanh nghiệp không
có khả năng trả nợ đến hạn khi có yêu cầu (trước đây, doanh nghiệp
phải chịu lỗ 2 năm liên tiếp và cố gắng tái cơ cấu không thành). Một
thay đổi khác là các chủ nợ có bảo đảm được xếp ưu tiên trước cơ
quan thuế. Các cải cách này hy vọng sẽ giảm bớt 6 tháng cho một thủ
tục phá sản. Và tỷ lệ thu hồi sẽ tăng từ 16 xu một đô la lên 19 xu.11
Mặc dù đây là tỷ lệ thấp nhất thế giới, tỷ lệ này có thể được tăng
lên nếu các cải cách sắp tới hướng trọng tâm vào hoàn thiện quá
trình giải thể và thanh lý doanh nghiệp. Thanh lý doanh nghiệp bảo
vệ được lợi ích của các bên vì việc bán cả doanh nghiệp cho một
người chủ mới và doanh nghiệp vẫn được tiếp tục vận hành sẽ tăng khả
năng thu hồi nợ cho các chủ nợ và duy trì việc làm cho người lao
động.
(1) Số liệu cho tất cả các bộ chỉ số
trong báo cáo này được tính đến tháng 1 năm 2005. Báo cáo toàn cầu
về Môi trường kinh doanh 2006: Tạo việc làm, Ngân hàng Thế giới và
Công ty Tài chính quốc tế (IFC), tháng 9 năm 2005.
(2) Từ ý tưởng Kinh doanh đến Hiện thực: chặng đường gian nan, GTZ/CIEM,
tháng 7/2005.
(3) Tổng quan về Giấy phép kinh doanh ở Việt Nam, Nguyễn Thị Thu
Trang, Báo cáo của Ngân hàng Phát triển Châu á (ADB), tháng 9 năm
2005.
(4) Xem ý tưởng Kinh doanh đến Hiện thực: chặng đường gian nan, như
trên
(5) Thúc đẩy quan hệ hợp đồng kinh doanh giữa các doanh nghiệp ở
Việt Nam, Phân tích chính sách phát triển khu vực tư nhân, Ngân hàng
thế giới , tháng 1/2005
(8) Thời gian cần để giải quyết một tranh chấp được tính theo ngày,
kể từ khi nguyên đơn nộp đơn kiện đến tòa án cho đến khi khoản nợ
được thanh toán. Xem Báo cáo toàn cầu về Môi trường kinh doanh 2006.
(9) Chỉ số chi phí đo các chi phí chính thức trang trải cho các thủ
tục của tòa bao gồm chi phí tòa, phí luật sư tại các nước mà việc sử
dụng luật sư là bắt buộc hoặc phổ biến, hoặc các chi phí hành chính
cho việc thu nợ, thể hiện trên % của giá trị nợ. Xem Báo cáo toàn
cầu về Môi trường kinh doanh 2006.
(10) Xem Thúc đẩy quan hệ hợp đồng kinh doanh giữa các doanh nghiệp
ở Việt Nam và Báo cáo toàn cầu về Môi trường kinh doanh 2006, như
trên
(11) Tỷ lệ thu hồi đo hiệu quả của việc tịch thu tài sản hoặc thủ
tục phá sản. Nó ước tính bao nhiêu cent trên một đô la đòi nợ - các
chủ nợ, cơ quan thuế và các nhân viên thu hồi từ công ty mất khả
năng thanh toán. Xem Báo cáo toàn cầu về Môi trường kinh doanh 2006 |