TRUNG TÂM THÔNG TIN KINH TẾ - PHÒNG THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Số 9 (12) Tháng 8/2005

   

Giới thiệu
 

Đăng ký và phản hồi
 

SỐ 22
Tiếp cận đất đai
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 21
Tổng công ty đầu tư và
kinh doanh vốn nhà nước
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 20
Đơn giản hoá thủ tục
thành lập doanh nghiệp
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 19
Hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 18
Thành lập doanh nghiệp
ở Việt Nam
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 17
Đơn giản hóa hệ thống
giấy phép kinh doanh
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 16
Hỗ trợ doanh nhân nữ
phát triển
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 15
Trung tâm thông tin
tín dụng tư nhân
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 14
Cải cách
môi trường kinh doanh
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 13
Quản trị doanh nghiệp
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 12
Luật Đầu tư (chung)
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 11
Khu vực kinh tế tư nhân
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 10
Luật Doanh nghiệp
thống nhất
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 9
Ưu đãi đầu tư ở Việt Nam
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 8
Môi trường kinh doanh 2004
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 7
Dịch vụ
phát triển kinh doanh
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 6
Chính quyền địa phương
& Kinh tế tư nhân
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 5
Định giá
doanh nghiệp nhà nước
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 4
Trách nhiệm xã hội
của doanh nghiệp
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 3
Thương hiệu và nhãn hiệu
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 2
Thị trường cổ phiếu
:: Bài viết  :: Thảo luận

 

SỐ 1
Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi
:: Bài viết  :: Thảo luận

 

 

THẢO LUẬN
 
Một số điều kiện kém thông thoáng được đặt ra  
cho các nhà đầu tư trong nước  

  • Có ý kiến cho rằng bây giờ dự án được chia thành 4 loại có vẻ phức tạp hơn. Theo tôi không phải như vậy. Nếu đọc kỹ Dự luật sẽ thấy thủ tục sẽ đơn giản hơn. Cách phân loại dự án (phổ thông, phổ thông có điều kiện, quan trọng, quan trọng quốc gia) sẽ làm cho việc quản lý đầu tư minh bạch và rõ ràng hơn. Việc thẩm định cũng khác trước, chỉ giới hạn ở thẩm định về tác động môi trường, sinh thái. Còn nếu dự án không sử dụng nguồn vốn nhà nước thì để nhà đầu tư tự đánh giá về các khía cạnh kinh tế, tài chính. Riêng đối với dự án đầu tư kinh doanh sử dụng vốn nhà nước, Nhà nước vẫn duy trì việc thẩm định để ra quyết định đầu tư nhằm chống thất thoát lãng phí và đầu tư kém hiệu quả. Tuy nhiên thẩm quyền cấp phép đầu tư và ra quyết định đầu tư được tăng cường phân cấp cho các bộ, ngành và địa phương.

    Theo Dự Luật ĐTC, thủ tục đầu tư sẽ đơn giản hơn hiện nay vì phần lớn các dự án đầu tư sẽ thuộc loại dự án phổ thông, theo đó nhà đầu tư chỉ cần đăng ký đầu tư theo mẫu để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư; số không nhiều là các dự án phổ thông có điều kiện, các dự án quan trọng và có rất ít dự án quan trọng quốc gia đòi hỏi phải được thẩm tra cấp giấy phép đầu tư. Đặc biệt, các dự án phổ thông do nhà đầu tư trong nước thực hiện không thuộc diện ưu đãi đầu tư có quy mô vốn dưới 5 tỷ đồng chỉ cần đăng ký đầu tư, mà không cần phải có giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.

Ông Phạm Mạnh Dũng, Vụ trưởng Vụ Pháp chế,
Bộ KHĐT, Trưởng ban soạn thảo Luật ĐTC


  • Như đã nói ở trên, việc thống nhất khung pháp lý về đầu tư được thực hiện trái chiều có lẽ đã dẫn đến việc hầu hết các chế định lớn của Dự thảo được thiết kế theo hướng tăng cường sự can thiệp của Nhà nước đối với hoạt động đầu tư (vốn là bất cập của pháp luật về ĐTNN hiện hành); ví dụ: điều kiện đối với dự án đầu tư, quá trình thẩm định để ra quyết định đầu tư, thủ tục đăng ký và thẩm định dự án, sửa đổi giấy phép đầu tư...Đứng từ phía các nhà đầu tư trong nước, rõ ràng các quy định này gây khó khăn, làm mất cơ hội đầu tư, tốn thời gian, chồng chéo và hình thức hơn nhiều so với pháp luật về đầu tư trong nước trước đây.

    Chúng tôi đề nghị chỉnh sửa các quy định về thủ tục đầu tư theo hướng không quản lý các dự án đầu tư phổ thông dưới bất kỳ hình thức nào. Liên quan đến triển khai dự án, Dự thảo Luật có nhiều quy định Nhà nước can thiệp vào quyền tự quyết của doanh nghiệp một cách bất hợp lý, thực chất là “trói tay” nhà đầu tư. Ví dụ quy định về việc nhà đầu tư có nghĩa vụ tiến hành giám định về chất lượng và giá trị những máy móc thiết bị nhập khẩu hoặc lắp đặt. Về nguyên tắc, triển khai dự án đầu tư (đặc biệt là dự án phổ thông) là việc của nhà đầu tư. Chúng tôi kiến nghị xem xét bỏ những quy định thể hiện việc Nhà nước quản lý các hoạt động không cần quản lý và không thể quản lý nói trên.

    Tôi nghĩ rằng các quy định về đầu tư cần được thiết kế theo hướng giản tiện thủ tục, dự kiến các cơ chế hỗ trợ nhà đầu tư, đồng thời hạn chế ở mức tối đa có thể các cơ hội, kẽ hở mà các cán bộ có thẩm quyền có thể lợi dụng để gây khó khăn cho nhà đầu tư. Dự thảo Luật ĐTC có vẻ không đi theo hướng này.

Ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch,
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam


  • Dự Luật ĐTC có xu hướng dùng các công cụ và thủ tục hành chính mạnh mẽ hơn để quản lý. Dự Luật đề ra một cơ quan quản lý đầu tư thẩm định các vấn đề trước khi đầu tư. Sau khi được cấp phép rồi thì Nhà nước yên tâm là doanh nghiệp sẽ tuân thủ các cam kết. Theo tôi, về phía nhà đầu tư đấy chỉ là cam kết hình thức. Về mặt kinh tế, các thông tin mà nhà đầu tư cung cấp chỉ là các dự báo. Vì khi thực hiện dự án, nhà đầu tư phải tuân thủ quy luật thị trường và phải thay đổi tùy theo thị trường. Mỗi lần thay đổi họ không thể quay lại cơ quan cấp phép đầu tư để khai báo mà phải làm việc với các cơ quan khác có chuyên môn về các lĩnh vực khác nhau như quản lý môi trường, lao động... để có xác nhận phù hợp với các tiêu chuẩn. Nếu luật không quy định rõ ràng thì cơ quan quản lý đầu tư có thể can thiệp vào tất cả mọi thứ.

Ông Nguyễn Tiến Lập, Phó tổng giám đốc,
Công ty tư vấn InvestConsult


  • Theo Dự luật, mọi dự án đều phải đăng ký đầu tư bất kể là dự án nào (không tính những dự án phải xin giấy phép đầu tư) và các dự án sẽ được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (trừ những dự án dưới 5 tỷ đồng và không thuộc trường hợp xin ưu đãi đầu tư). Vậy các nhà đầu tư đăng ký đầu tư để làm gì? Và Nhà nước cần họ đăng ký đầu tư để làm gì? Theo tôi không có câu trả lời xác đáng. Quy định mỗi dự án phổ thông phải đăng ký đầu tư rõ ràng là vô lý và chỉ tạo cơ hội cho các hành vi phiền nhiễu doanh nghiệp.

    Theo tôi, nếu duy trì đăng ký đầu tư và cấp giấy CNĐKĐT, chỉ thực hiện trong trường hợp sau (khi xác định rõ lợi ích của nhà đầu tư và quan tâm của nhà nước): i) khi nguồn vốn góp đầu tư được chuyển từ nước ngoài; ii) khi nhà đầu tư xin cấp ưu đãi đầu tư; iii) khi nhà đầu tư có nhu cầu cần cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thu xếp về đất. Còn những trường hợp khác (trừ những trường hợp phải xin phép đầu tư) miễn cho họ việc đăng ký đầu tư và giấy CNĐKĐT.

    Ngoài giấy CNĐKĐT trên, dự thảo còn dự kiến một số giấy phép “con” mới cho doanh nghiệp trong nước có phần vốn tư nhân. Ví dụ giấy phép đầu tư (GPĐT) đối với dự án có tỷ trọng sử dụng từ 30% vốn nhà nước trở lên hoặc dự án không sử dụng vốn nhà nước có quy mô đầu tư từ 300 tỷ đồng trở lên. Khái niệm dự án sử dụng 30% vốn nhà nước là không rõ ràng, nếu coi vốn của ngân hàng thương mại quốc doanh hoặc Quỹ hỗ trợ đầu tư cũng là vốn nhà nước thì hầu hết các dự án có vốn vay từ vài tỷ đồng trở lên cũng thuộc loại này, tức cần xin GPĐT.

LS Trần Vũ Hải,
Trưởng Văn phòng luật sư Trần Vũ Hải


  • Tôi cho rằng Dự thảo chưa thể hiện tinh thần khuyến khích đầu tư, trái lại là cản trở đầu tư, hạn chế quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp qua việc qui định cấp phép và quản lý giấy phép để xin giấy chứng nhận đầu tư, giấy ưu đãi đầu tư ... Tóm lại Dự thảo trái với tư tưởng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng Luật ĐTC. Luật Khuyến khích đầu tư trong nước hiện hành tuy còn vài điểm hạn chế nhưng còn thông thoáng hơn nhiều so với Dự thảo Luật ĐTC. VAFI e ngại rằng nếu Dự thảo này được chấp nhận thông qua thì có hàng ngàn doanh nghiệp trong nước sẽ phải làm thêm nhiều công việc (do Luật mới qui định) phát sinh rất tốn kém, rất mất thời gian, có khi mất cơ hội kinh doanh, điều đáng nói là những công việc đó không đem lại lợi ích cho nhà nước, cho người dân mà chỉ phát sinh tình trạng quan liêu giấy tờ.

    Các tiêu chí phân loại dự án đầu tư mà Dự thảo đưa ra còn nhiều bất cập. Chúng tôi đề nghị thay vì dựa vào tiêu chí quy mô vốn nên căn cứ vào tính chất của dự án làm cơ sở để phân loại dự án. Ví dụ quy định dự án không sử dụng vốn nhà nước có quy mô vốn đầu tư từ 300 tỷ đồng trở lên thì coi là dự án phổ thông có điều kiện là hoàn toàn không có căn cứ. Ngoài ra, dịch vụ tài chính là lĩnh vực rất rộng bao gồm: dịch vụ kiểm toán, dịch vụ kế toán, dịch vụ thẩm định giá, dịch vụ đòi nợ… Đây là những dịch vụ hết sức thông thường và không thể coi là những dự án quan trọng được. Về việc thẩm tra cấp phép đầu tư, tôi đề nghị chỉ nên quy định những yếu tố nào của dự án cần được quản lý nhà nước thì mới yêu cầu doanh nghiệp kê khai, không nên đưa ra nhiều chỉ tiêu, nội dung mà không phục vụ công tác quản lý nhà nước về cấp phép đầu tư.

Ông Nguyễn Hoàng Hải, Tổng thư ký,
Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính Việt Nam (VAFI)


>> Xem thêm

Tổ chức và thực hiện: Ban biên tập Trung tâm Thông tin Kinh tế
Địa chỉ: tầng 5, Trung tâm Thương mại Quốc tế, Số 9 Đào Duy Anh, Hà Nội
ĐT: (84-4) 574 3084 - Fax: (84-4) 574 2773 - E-mail: vcci@hn.vnn.vn