-
Có ý kiến cho rằng
bây giờ dự án được chia thành 4 loại có vẻ phức tạp hơn. Theo
tôi không phải như vậy. Nếu đọc kỹ Dự luật sẽ thấy thủ tục sẽ
đơn giản hơn. Cách phân loại dự án (phổ thông, phổ thông có điều
kiện, quan trọng, quan trọng quốc gia) sẽ làm cho việc quản lý
đầu tư minh bạch và rõ ràng hơn. Việc thẩm định cũng khác trước,
chỉ giới hạn ở thẩm định về tác động môi trường, sinh thái. Còn
nếu dự án không sử dụng nguồn vốn nhà nước thì để nhà đầu tư tự
đánh giá về các khía cạnh kinh tế, tài chính. Riêng đối với dự
án đầu tư kinh doanh sử dụng vốn nhà nước, Nhà nước vẫn duy trì
việc thẩm định để ra quyết định đầu tư nhằm chống thất thoát
lãng phí và đầu tư kém hiệu quả. Tuy nhiên thẩm quyền cấp phép
đầu tư và ra quyết định đầu tư được tăng cường phân cấp cho các
bộ, ngành và địa phương.
Theo Dự Luật ĐTC, thủ tục đầu tư sẽ đơn giản hơn hiện nay vì
phần lớn các dự án đầu tư sẽ thuộc loại dự án phổ thông, theo đó
nhà đầu tư chỉ cần đăng ký đầu tư theo mẫu để được cấp Giấy
chứng nhận đăng ký đầu tư; số không nhiều là các dự án phổ thông
có điều kiện, các dự án quan trọng và có rất ít dự án quan trọng
quốc gia đòi hỏi phải được thẩm tra cấp giấy phép đầu tư. Đặc
biệt, các dự án phổ thông do nhà đầu tư trong nước thực hiện
không thuộc diện ưu đãi đầu tư có quy mô vốn dưới 5 tỷ đồng chỉ
cần đăng ký đầu tư, mà không cần phải có giấy chứng nhận đăng ký
đầu tư.
Ông Phạm Mạnh Dũng, Vụ trưởng Vụ Pháp chế,
Bộ KHĐT, Trưởng ban soạn thảo Luật ĐTC
-
Như đã nói ở trên, việc thống nhất khung pháp lý về đầu tư được
thực hiện trái chiều có lẽ đã dẫn đến việc hầu hết các chế định
lớn của Dự thảo được thiết kế theo hướng tăng cường sự can thiệp
của Nhà nước đối với hoạt động đầu tư (vốn là bất cập của pháp
luật về ĐTNN hiện hành); ví dụ: điều kiện đối với dự án đầu tư,
quá trình thẩm định để ra quyết định đầu tư, thủ tục đăng ký và
thẩm định dự án, sửa đổi giấy phép đầu tư...Đứng từ phía các nhà
đầu tư trong nước, rõ ràng các quy định này gây khó khăn, làm
mất cơ hội đầu tư, tốn thời gian, chồng chéo và hình thức hơn
nhiều so với pháp luật về đầu tư trong nước trước đây.
Chúng tôi đề nghị chỉnh sửa các quy định về thủ tục đầu tư theo
hướng không quản lý các dự án đầu tư phổ thông dưới bất kỳ hình
thức nào. Liên quan đến triển khai dự án, Dự thảo Luật có nhiều
quy định Nhà nước can thiệp vào quyền tự quyết của doanh nghiệp
một cách bất hợp lý, thực chất là “trói tay” nhà đầu tư. Ví dụ
quy định về việc nhà đầu tư có nghĩa vụ tiến hành giám định về
chất lượng và giá trị những máy móc thiết bị nhập khẩu hoặc lắp
đặt. Về nguyên tắc, triển khai dự án đầu tư (đặc biệt là dự án
phổ thông) là việc của nhà đầu tư. Chúng tôi kiến nghị xem xét
bỏ những quy định thể hiện việc Nhà nước quản lý các hoạt động
không cần quản lý và không thể quản lý nói trên.
Tôi nghĩ rằng các quy định về đầu tư cần được thiết kế theo
hướng giản tiện thủ tục, dự kiến các cơ chế hỗ trợ nhà đầu tư,
đồng thời hạn chế ở mức tối đa có thể các cơ hội, kẽ hở mà các
cán bộ có thẩm quyền có thể lợi dụng để gây khó khăn cho nhà đầu
tư. Dự thảo Luật ĐTC có vẻ không đi theo hướng này.
Ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch,
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
-
Dự Luật ĐTC có xu hướng dùng các công cụ và thủ tục hành chính
mạnh mẽ hơn để quản lý. Dự Luật đề ra một cơ quan quản lý đầu tư
thẩm định các vấn đề trước khi đầu tư. Sau khi được cấp phép rồi
thì Nhà nước yên tâm là doanh nghiệp sẽ tuân thủ các cam kết.
Theo tôi, về phía nhà đầu tư đấy chỉ là cam kết hình thức. Về
mặt kinh tế, các thông tin mà nhà đầu tư cung cấp chỉ là các dự
báo. Vì khi thực hiện dự án, nhà đầu tư phải tuân thủ quy luật
thị trường và phải thay đổi tùy theo thị trường. Mỗi lần thay
đổi họ không thể quay lại cơ quan cấp phép đầu tư để khai báo mà
phải làm việc với các cơ quan khác có chuyên môn về các lĩnh vực
khác nhau như quản lý môi trường, lao động... để có xác nhận phù
hợp với các tiêu chuẩn. Nếu luật không quy định rõ ràng thì cơ
quan quản lý đầu tư có thể can thiệp vào tất cả mọi thứ.
Ông Nguyễn Tiến Lập, Phó tổng giám đốc,
Công ty tư vấn InvestConsult
-
Theo
Dự luật, mọi dự án đều phải đăng ký đầu tư bất kể là dự án nào (không
tính những dự án phải xin giấy phép đầu tư) và các dự án sẽ được
cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (trừ những dự án dưới 5 tỷ
đồng và không thuộc trường hợp xin ưu đãi đầu tư). Vậy các nhà
đầu tư đăng ký đầu tư để làm gì? Và Nhà nước cần họ đăng ký đầu
tư để làm gì? Theo tôi không có câu trả lời xác đáng. Quy định
mỗi dự án phổ thông phải đăng ký đầu tư rõ ràng là vô lý và chỉ
tạo cơ hội cho các hành vi phiền nhiễu doanh nghiệp.
Theo tôi, nếu duy trì đăng ký đầu tư và cấp giấy CNĐKĐT, chỉ
thực hiện trong trường hợp sau (khi xác định rõ lợi ích của nhà
đầu tư và quan tâm của nhà nước): i) khi nguồn vốn góp đầu tư
được chuyển từ nước ngoài; ii) khi nhà đầu tư xin cấp ưu đãi đầu
tư; iii) khi nhà đầu tư có nhu cầu cần cơ quan có thẩm quyền của
Nhà nước thu xếp về đất. Còn những trường hợp khác (trừ những
trường hợp phải xin phép đầu tư) miễn cho họ việc đăng ký đầu tư
và giấy CNĐKĐT.
Ngoài giấy CNĐKĐT trên, dự thảo còn dự kiến một số giấy phép
“con” mới cho doanh nghiệp trong nước có phần vốn tư nhân. Ví dụ
giấy phép đầu tư (GPĐT) đối với dự án có tỷ trọng sử dụng từ 30%
vốn nhà nước trở lên hoặc dự án không sử dụng vốn nhà nước có
quy mô đầu tư từ 300 tỷ đồng trở lên. Khái niệm dự án sử dụng
30% vốn nhà nước là không rõ ràng, nếu coi vốn của ngân hàng
thương mại quốc doanh hoặc Quỹ hỗ trợ đầu tư cũng là vốn nhà
nước thì hầu hết các dự án có vốn vay từ vài tỷ đồng trở lên
cũng thuộc loại này, tức cần xin GPĐT.
LS Trần Vũ Hải,
Trưởng Văn phòng luật sư Trần Vũ Hải
-
Tôi
cho rằng Dự thảo chưa thể hiện tinh thần khuyến khích đầu tư,
trái lại là cản trở đầu tư, hạn chế quyền tự do kinh doanh của
doanh nghiệp qua việc qui định cấp phép và quản lý giấy phép để
xin giấy chứng nhận đầu tư, giấy ưu đãi đầu tư ... Tóm lại Dự
thảo trái với tư tưởng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về xây
dựng Luật ĐTC. Luật Khuyến khích đầu tư trong nước hiện hành tuy
còn vài điểm hạn chế nhưng còn thông thoáng hơn nhiều so với Dự
thảo Luật ĐTC. VAFI e ngại rằng nếu Dự thảo này được chấp nhận
thông qua thì có hàng ngàn doanh nghiệp trong nước sẽ phải làm
thêm nhiều công việc (do Luật mới qui định) phát sinh rất tốn
kém, rất mất thời gian, có khi mất cơ hội kinh doanh, điều đáng
nói là những công việc đó không đem lại lợi ích cho nhà nước,
cho người dân mà chỉ phát sinh tình trạng quan liêu giấy tờ.
Các tiêu chí phân loại dự án đầu tư mà Dự thảo đưa ra còn nhiều
bất cập. Chúng tôi đề nghị thay vì dựa vào tiêu chí quy mô vốn
nên căn cứ vào tính chất của dự án làm cơ sở để phân loại dự án.
Ví dụ quy định dự án không sử dụng vốn nhà nước có quy mô vốn
đầu tư từ 300 tỷ đồng trở lên thì coi là dự án phổ thông có điều
kiện là hoàn toàn không có căn cứ. Ngoài ra, dịch vụ tài chính
là lĩnh vực rất rộng bao gồm: dịch vụ kiểm toán, dịch vụ kế toán,
dịch vụ thẩm định giá, dịch vụ đòi nợ… Đây là những dịch vụ hết
sức thông thường và không thể coi là những dự án quan trọng được.
Về việc thẩm tra cấp phép đầu tư, tôi đề nghị chỉ nên quy định
những yếu tố nào của dự án cần được quản lý nhà nước thì mới yêu
cầu doanh nghiệp kê khai, không nên đưa ra nhiều chỉ tiêu, nội
dung mà không phục vụ công tác quản lý nhà nước về cấp phép đầu
tư.
Ông Nguyễn Hoàng Hải, Tổng thư ký,
Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính Việt Nam (VAFI)
>> Xem thêm
|