-
Cục Phát triển DNNVV
hiện đang soạn thảo Kế hoạch Phát triển DNNVV 2006-2010. Mục
đích của bản kế hoạch này là xây dựng một loạt chương trình và
biện pháp trợ giúp DNNVV trong giai đoạn 2006-2010, trong đó ưu
tiên xóa bỏ những bất cập vướng mắc liên quan tới việc thành lập
và hoạt động của doanh nghiệp và tạo một môi trường thuận lợi
cho sự lớn mạnh của khối DNNVV - một trong những động lực quan
trọng của nền kinh tế. Mục tiêu của bản kế hoạch này là đến năm
2010, các DNNVV sẽ tạo thêm khoảng 2,5 triệu chỗ làm mới, nâng
cao khả năng cạnh tranh để tăng đóng góp cho GDP và tỷ lệ DNNVV
trực tiếp tham gia xuất khẩu đạt từ 3 đến 6%. Để đạt được những
mục tiêu đặt ra, chúng tôi sẽ đề xuất Chính phủ một số nhóm giải
pháp liên quan đến khung pháp lý và chính sách đối với khối
DNNVV, tập trung vào hai vấn đề lớn: một là giảm chi phí khởi
nghiệp và vận hành kinh doanh, hai là nâng cao năng lực và sức
cạnh tranh của DNNVV. Ban soạn thảo đang xây dựng một loạt các
đề xuất cụ thể về chính sách có thể ảnh hưởng trực tiếp đến
DNNVV. Tôi có thể đơn cử ra đây một số giải pháp về chính sách
mà có thể giải quyết những bức xúc hiện nay của DNNVV. Thứ nhất
tiếp tục đơn giản hóa thủ tục đăng ký kinh doanh thông qua việc
rà soát và loại bỏ những quy định, giấy phép con không cần thiết.
Thứ hai, xem xét lại chế độ khoán thuế hiện đang áp dụng đối với
các hộ kinh doanh cá thể vì đây có thể là một rào cản lớn để các
hộ kinh doanh cá thể chuyển đổi thành doanh nghiệp chính thức.
Ba là tiếp tục hoàn thiện công tác quy hoạch đất đai, có thể
phân cấp cho cơ quan cấp tỉnh xét duyệt các dự án xây dựng các
khu công nghiệp quy mô nhỏ phù hợp với nhu cầu và tiềm lực của
DNNVV, đồng thời thiết lập mạng lưới cơ quan đăng ký đất đai
theo quy định của Luật Đất đai mới sửa đổi. Bốn là tiếp tục xem
xét các quy định bất cập và ban hành các văn bản hướng dẫn thi
hành luật Phá sản để luật này được thực thi trong thực tế.
Bà Phạm Thị Thanh Hà, Phòng Tổng hợp và Khuyến khích đầu tư
trong nước,
Cục Phát triển Doanh nghiệp Nhỏ và vừa (ASMED)
-
Khu
vực kinh tế tư nhân của Việt Nam đã phát triển đáng kể trong 10
năm qua. Là một quỹ chuyên đầu tư vào doanh nghiệp tư nhân,
chúng tôi đã từng gặp gỡ với hơn 300 doanh nghiệp Việt Nam trong
những năm gần đây. Kinh nghiệm của chúng tôi cho thấy một doanh
nghiệp tư nhân điển hình của Việt Nam tăng trưởng trung bình
20%/ năm, một số công ty thành công còn có mức tăng trưởng nhanh
hơn. Chúng tôi cũng thấy rằng các doanh nghiệp tư nhân cũng ngày
càng nâng cao tính cạnh tranh so với doanh nghiệp nước ngoài và
doanh nghiệp quốc doanh. Tiến bộ này đạt được là nhờ các cải
cách mạnh mẽ từ khi có chính sách Đổi mới năm 1989 và cũng nhờ
tinh thần kinh doanh và làm việc chăm chỉ của người dân Việt
Nam. Mặc dù đã có nhiều cải thiện nói chung, vẫn còn tồn tại
những cản trở nhất định mà nếu giải quyết tốt thì sẽ giúp khối
doanh nghiệp tư nhân đóng góp nhiều hơn nữa cho nền kinh tế.
Chẳng hạn cải thiện hơn nữa thị trường vốn và khả năng tiếp cận
các nguồn tài chính từ thị trường này sẽ giúp doanh nghiệp tư
nhân có đủ nguồn vốn để tiếp tục mở rộng quy mô và lớn mạnh, đặc
biệt quan trọng đối với những ngành cần vốn lớn. Mekong Capital
rất hoan nghênh việc xây dựng kế hoạch 5 năm phát triển doanh
nghiệp tư nhân vì kế hoạch này sẽ giúp xây dựng một số mục tiêu
cụ thể để tất cả các bên có liên quan như các cơ quan quản lý,
các chương trình tài trợ và khu vực doanh nghiệp tư nhân cùng
phối hợp thực hiện vì sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân.
Kinh nghiệm của chúng tôi là khi đầu tư vào một doanh nghiệp cụ
thể, cần có sự hiểu biết chung về mục tiêu của doanh nghiệp đó
thì mới có thể cùng doanh nghiệp thực hiện các thay đổi thành
công được. Cũng tương tự như vây, việc xác định được những mục
tiêu rõ ràng đối với sự phát triển khu vực kinh tế tư nhân trong
5 năm tới sẽ đóng một vai trò quan trọng để phối hợp nỗ lực của
các bên vì những mục tiêu chung.
Ông Chris Freund,
Tổng giám đốc, Quỹ đầu tư Mekong Capital
-
Để
tiếp tục lớn mạnh và thích nghi với những cơ hội kinh doanh mới,
các doanh nghiệp tư nhân còn non trẻ nhưng rất năng động của
Việt Nam cần một môi trường chính sách linh hoạt chứ không phải
quá nhiều thủ tục và can thiệp. Trong những năm qua Chính phủ
Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc thiết lập nên một khung
pháp lý điều chỉnh các hoạt động kinh doanh; bây giờ là lúc phải
chú trọng hơn đến việc thực thi có hiệu quả các quy định pháp
luật mới và công tác cải cách thể chế. Các cơ quan quản lý nhà
nước cần tạo điều kiện chứ không phải kiểm soát đối với hoạt
động của khối doanh nghiệp tư nhân. Đã đến lúc cần có sự tương
tác nhịp nhàng giữa khối doanh nghiệp và khối quản lý nhà nước,
đặc biệt trong lĩnh vực thuế và hải quan, dựa trên nguyên tắc
minh bạch và cung cấp dịch vụ công cho doanh nghiệp.
Hiện ở Việt Nam có xu hướng là có quá nhiều quy định về hoạt
động kinh doanh, hạn chế sự phát triển lớn mạnh của các doanh
nghiệp nhỏ. Các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam cần dành nguồn lực
để theo đuổi và nắm bắt những cơ hội kinh doanh chứ không phải
để chấp hành (đôi khi là lách) các quy định quá phức tạp này.
Quá nhiều quy định có thể dẫn đến những hiện tượng doanh nghiệp
cố tình lách luật hay hoạt động không chính thức hơn là tuân thủ
luật pháp.
Các nhà hoạch định chính sách đang có một cơ hội tốt để hỗ trợ
hoạt động của doanh nghiệp bằng việc tiếp tục đơn giản hóa các
quy định của Luật Doanh nghiệp thống nhất hiện đang được soạn
thảo. Ví dụ, các luật lệ chi tiết về cơ cấu tổ chức và hoạt động
của một doanh nghiệp có thể để doanh nghiệp tự quy định trong
Điều lệ công ty mà không cần Luật quy định quá chi tiết và thiếu
linh hoạt. Một Luật Doanh nghiệp bớt các quy định quá chi tiết
sẽ giúp các doanh nghiệp nhỏ có được độ linh hoạt và dễ dàng
tuân thủ, đồng thời giúp công việc thực thi luật đơn giản hơn.
Bà Amanda Carlier, Chuyên viên về Phát triển Kinh tế tư nhân,
Văn phòng Ngân hàng thế giới tại Việt Nam
-
Chính
phủ Việt Nam ghi nhận tầm quan trọng của phát triển DNNVV thông
qua việc giao cho Bộ Kế hoạch Đầu tư soạn thảo Kế hoạch Phát
triển DNNVV và Kế hoạch hành động để làm cấu phần của Kế hoạch
Phát triển Kinh tế - Xã hội 5 năm 2006-2010. Ngoài ra, Chính phủ
đã yêu cầu mọi cơ quan liên quan đánh giá các thành tựu và các
hạn chế để xác định các bước hành động cụ thể trong 5 năm tới
nhằm tăng cường chất lượng tăng trưởng kinh tế.
Đây là một chuyển dịch về trọng tâm đáng hoan nghênh. Đơn giản
có nghĩa là chúng ta cần hỏi và trả lời những câu hỏi như "chúng
ta có thể xuất khẩu mặt hàng gì để hiệu quả" hơn là "chúng ta có
thể xuất khẩu mặt hàng gì?" Những mục tiêu đặt ra ở các cấp cần
chú trọng đến năng suất, xác định được các nhân tố quyết định và
xóa bỏ các rào cản hơn là chú trọng vào các chỉ số đơn giản.
Trong phát triển DNNVV ở Việt Nam, trọng tâm này cũng có thể
hiểu đơn giản là đặt ra mục tiêu nâng cao tỷ lệ đóng góp của
DNNVV vào việc tạo công ăn việc làm trong 5 năm tới.
Tập trung nâng cao chất lượng tăng trưởng và lấy năng suất làm
mục tiêu căn bản không có nghĩa là loại trừ việc sử dụng các mục
tiêu định lượng trong việc lập kế hoạch và triển khai các chính
sách phát triển DNNVV. Theo ý kiến và kinh nghiệm của tôi, những
gì không đo đếm được sẽ không có cơ hội triển khai được. Vì vậy,
cần đặt ra các chỉ tiêu cụ thể, thực tiễn, có mốc thời gian cụ
thể và đo đếm được để xác định liệu những mục tiêu tổng quát và
các mục tiêu cụ thể của kế hoạch phát triển DNNVV có đạt được
không. Những chỉ tiêu này phải là chỉ tiêu định lượng và đo đếm
được, có thể kiểm soát được định kỳ và sẽ liên quan tới các con
số định lượng như số lượng việc làm mới, số lượng DNNVV thành
lập mới, số lượng DNNVV xuất khẩu v.v. Vấn đề cơ bản và quan
trọng hơn cả không phải có nên dùng các mục tiêu định lượng hay
không mà vấn đề là vì sao dùng và dùng như thế nào.
Bà Nilgun F. Tas, Cố vấn trưởng,
Dự án Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ (Bộ Kế hoạch và Đầu tư–UNIDO)
>> Xem thêm
|