TRUNG TÂM THÔNG TIN KINH TẾ - PHÒNG THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Số 8 (11) Tháng 6/2005

   

Giới thiệu
 

Đăng ký và phản hồi
 

SỐ 22
Tiếp cận đất đai
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 21
Tổng công ty đầu tư và
kinh doanh vốn nhà nước
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 20
Đơn giản hoá thủ tục
thành lập doanh nghiệp
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 19
Hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 18
Thành lập doanh nghiệp
ở Việt Nam
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 17
Đơn giản hóa hệ thống
giấy phép kinh doanh
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 16
Hỗ trợ doanh nhân nữ
phát triển
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 15
Trung tâm thông tin
tín dụng tư nhân
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 14
Cải cách
môi trường kinh doanh
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 13
Quản trị doanh nghiệp
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 12
Luật Đầu tư (chung)
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 11
Khu vực kinh tế tư nhân
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 10
Luật Doanh nghiệp
thống nhất
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 9
Ưu đãi đầu tư ở Việt Nam
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 8
Môi trường kinh doanh 2004
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 7
Dịch vụ
phát triển kinh doanh
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 6
Chính quyền địa phương
& Kinh tế tư nhân
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 5
Định giá
doanh nghiệp nhà nước
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 4
Trách nhiệm xã hội
của doanh nghiệp
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 3
Thương hiệu và nhãn hiệu
:: Bài viết  :: Thảo luận
 

SỐ 2
Thị trường cổ phiếu
:: Bài viết  :: Thảo luận

 

SỐ 1
Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi
:: Bài viết  :: Thảo luận

 

 

THẢO LUẬN
 
Việc đăng ký thành lập doanh nghiệp đã trở nên khá dễ dàng, giúp tăng nhanh số lượng doanh nghiệp thành lập mới. Nhưng số lượng doanh nghiệp thực sự đang  
hoạt động không nhiều như con số đăng ký  

  • Từ khi có Luật Doanh nghiệp năm 2000, ở TP. HCM doanh nghiệp tăng nhanh về số lượng. Hiện nay tại thành phố tập trung khoảng hơn 50.000 doanh nghiệp, chiếm khoảng 1/3 tổng số doanh nghiệp cả nước.

    Chúng ta cũng đều hiểu rằng trong một cái ao có hàng ngàn con cá con được sinh ra, không phải con cá nào cũng có thể trưởng thành được - đây là một hiện tượng hết sức bình thường và khách quan. Theo tinh thần tương đối cởi mở của Luật Doanh nghiệp, để thành lập doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp chỉ cần đăng ký; việc thực sự bỏ vốn không phải là điều kiện để đăng ký kinh doanh (ĐKKD) nữa. Đây là điều tốt, nhưng đi kèm với điều này thì công tác hậu kiểm lẽ ra phải được làm tốt hơn. Làm tốt công tác hậu kiểm không những giúp giám sát để quản lý doanh nghiệp, đảm bảo thu thuế cho Nhà nước mà còn giúp cơ quan Nhà nước có điều kiện để hỗ trợ các doanh nghiệp mới thành lập hoạt động tốt hơn. Sau khi đăng ký kinh doanh, hiện nay các doanh nghiệp hầu như tự bươn chải hoạt động, các cơ quan Nhà nước chưa có cơ chế để hỗ trợ doanh nghiệp về nhiều mặt để doanh nghiệp từng bước phát triển. Tỷ lệ doanh nghiệp "mất tích" (có nghĩa là giải thể mà không khai báo) ở Việt Nam là tương đối cao cũng một phần do chưa có một cơ chế hậu kiểm tốt.

Ông Trương Trọng Nghĩa, Phó Giám đốc,
Trung tâm Xúc tiến thương mại và Đầu tư TPHCM (ITPC),
Trưởng ban Điều hành Hệ thống Đối thoại Doanh Nghiệp với chính quyền thành phố


  • Hiện nay có ba cơ sở dữ liệu về doanh nghiệp nằm ở ba cơ quan khác nhau và số liệu về số lượng doanh nghiệp của các cơ quan này đưa ra, theo tôi, đều đúng cả. Bộ Kế hoạch và Đầu tư quản lý cơ sở dữ liệu về các doanh nghiệp được cấp phép ĐKKD nên số liệu công bố là con số các doanh nghiệp đã được đăng ký (tức là được khai sinh) cộng dồn của nhiều năm (hiện nay khoảng 140.000 doanh nghiệp). Cơ quan thuế lại quản lý cơ sở dữ liệu về các doanh nghiệp được cấp mã số thuế vì theo quy trình thành lập doanh nghiệp, các doanh nghiệp sau khi đăng ký kinh doanh đều phải đến cơ quan thuế để xin mã số thuế. Danh sách này cũng lớn, khoảng trên 100.000 doanh nghiệp. Cơ quan thống kê quản lý cơ sở dữ liệu của những doanh nghiệp thực tế đang còn hoạt động trong nền kinh tế quốc dân nên số liệu công bố đã loại trừ những doanh nghiệp mất đi và được cập nhật đến thời điểm cơ quan thống kê tiến hành điều tra, thường là 31 tháng 12 hàng năm. Tính đến 31/12/2003 có tổng số 72.012 doanh nghiệp đang hoạt động trong nền kinh tế. Theo tôi, con số của thống kê về doanh nghiệp thực sự còn hoạt động có ý nghĩa giúp xác định được từng khối doanh nghiệp đóng góp vào tăng trưởng như thế nào thông qua các chỉ tiêu như % GDP, nộp ngân sách, tích luỹ cho đầu tư v.v.

    Trong những năm gần đây, con số doanh nghiệp cấp ĐKKD được công bố và sử dụng nhiều hơn, trong khi các con số khác, như con số của thống kê, ít được người sử dụng quan tâm. Hơn nữa, những con số công bố không được giải thích bản chất của nó khiến nhiều người sử dụng không hiểu rõ nguồn gốc và bản chất của những con số công bố đó. Tôi nghĩ rằng ba cơ quan nắm giữ ba cơ sở dữ liệu về doanh nghiệp nên ngồi lại với nhau để có được những phân tích có giá trị về toàn cảnh bức tranh của doanh nghiệp Việt Nam.

Ông Vũ Văn Tuấn, Vụ trưởng, Vụ Thống kê công nghiệp và xây dựng, Tổng cục Thống kê


  • Với sự giúp đỡ của Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), Cục Phát triển DNNVV phối hợp với các Sở Kế hoạch và Đầu tư của 30 tỉnh, thành phố phía Bắc đã tiến hành cuộc điều tra khảo sát quy mô về nhu cầu của DN. Mục tiêu của cuộc khảo sát là giúp hình thành một cơ sở dữ liệu chuẩn xác và chính thống về DN nói chung và DNNVV trên địa bàn nói riêng để sử dụng cho các yêu cầu thông tin chung. Hiện nay chúng tôi đang trong quá trình thu thập số liệu và xử lý thông tin, nhưng kết quả sơ bộ cũng cho thấy rằng có sự chênh lệch đáng kể giữa con số doanh nghiệp đăng ký với con số doanh nghiệp thực tế đang còn hoạt động. Sự chênh lệch này là do một số yếu tố chính sau. Thứ nhất, có một số doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh nhưng thực chất chưa hề hoạt động do đăng ký thành lập khi mới có ý tưởng kinh doanh một cách phác hoạ, chưa cụ thể, sau đó không triển khai. Trường hợp thứ hai là nhiều doanh nghiệp vẫn còn hoạt động nhưng chuyển địa điểm mới mà không thông báo lại với cơ quan ĐKKD. Trường hợp cuối cùng là các doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh để triển khai ý tưởng kinh doanh nhưng không được do cơ hội đầu tư không còn nữa. Trong trường hợp này, lẽ ra doanh nghiệp có nghĩa vụ trả lại giấy phép ĐKKD và con dấu nhưng họ đã không làm; trong khi đó cán bộ của các cơ quan ĐKKD do công việc quá nhiều cũng không thể theo dõi để thu hồi lại giấy phép ĐKKD.

Ông Tạ Đình Xuyên, Giám đốc, Trung tâm Hỗ trợ kỹ thuật DNNVV tại Hà Nội


  • Sở Kế hoạch và Đầu tư chỉ có thể thống kê số doanh nghiệp thành lập mới và số doanh nghiệp chính thức giải thể, còn để biết trên thực tế doanh nghiệp có còn hoạt động hay không thì cần phải phối hợp với cơ quan thuế và chính quyền địa phương mới nắm bắt được cụ thể. Chẳng hạn trong năm 2004, chúng tôi có gửi thư yêu cầu nộp báo cáo hoạt động kinh doanh tới hơn 50.000 doanh nghiệp thì hơn 3.000 thư bị trả lại vì không có người nhận. Một trong những lí do của hiện tượng này là rất nhiều doanh nghiệp chuyển trụ sở mà không làm thủ tục thay đổi nội dung giấy ĐKKD. Ngoài ra, chúng tôi cũng biết rằng có một số trường hợp doanh nghiệp "tự biến mất", tức là tự giải thể mà không báo cho cơ quan ĐKKD. Theo tôi dự đoán, có nhiều doanh nghiệp thực hiện ĐKKD vì một mục đích khác chẳng hạn như để nhập hộ khẩu về thành phố nên chưa bao giờ hoạt động trên thực tế cả. Về việc có nhiều doanh nghiệp giải thể mà không làm thủ tục giải thể chính thức thì theo tôi lý do chính không phải do các thủ tục giải thể doanh nghiệp quá phức tạp mà là do nhiều doanh nghiệp cố tình trốn thuế. Để tiến hành thủ tục giải thể, doanh nghiệp phải hoàn thành quyết toán thuế trước nhưng nhiều doanh nghiệp nợ thuế đã lâu, đến khi không hoạt động nữa họ cũng không muốn làm thủ tục giải thể để không phải trả thuế.

Ông Đào Xuân Đức, Trưởng phòng Đăng ký kinh doanh, Sở Kế hoạch và Đầu tư TPHCM


>> Xem thêm

Tổ chức và thực hiện: Ban biên tập Trung tâm Thông tin Kinh tế
Địa chỉ: tầng 5, Trung tâm Thương mại Quốc tế, Số 9 Đào Duy Anh, Hà Nội
ĐT: (84-4) 574 3084 - Fax: (84-4) 574 2773 - E-mail: vcci@hn.vnn.vn