-
Từ
khi có Luật Doanh nghiệp năm 2000, ở TP. HCM doanh nghiệp tăng
nhanh về số lượng. Hiện nay tại thành phố tập trung khoảng hơn
50.000 doanh nghiệp, chiếm khoảng 1/3 tổng số doanh nghiệp cả
nước.
Chúng ta cũng đều hiểu rằng trong một cái ao có hàng ngàn con cá
con được sinh ra, không phải con cá nào cũng có thể trưởng thành
được - đây là một hiện tượng hết sức bình thường và khách quan.
Theo tinh thần tương đối cởi mở của Luật Doanh nghiệp, để thành
lập doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp chỉ cần đăng ký; việc thực sự
bỏ vốn không phải là điều kiện để đăng ký kinh doanh (ĐKKD) nữa.
Đây là điều tốt, nhưng đi kèm với điều này thì công tác hậu kiểm
lẽ ra phải được làm tốt hơn. Làm tốt công tác hậu kiểm không
những giúp giám sát để quản lý doanh nghiệp, đảm bảo thu thuế
cho Nhà nước mà còn giúp cơ quan Nhà nước có điều kiện để hỗ trợ
các doanh nghiệp mới thành lập hoạt động tốt hơn. Sau khi đăng
ký kinh doanh, hiện nay các doanh nghiệp hầu như tự bươn chải
hoạt động, các cơ quan Nhà nước chưa có cơ chế để hỗ trợ doanh
nghiệp về nhiều mặt để doanh nghiệp từng bước phát triển. Tỷ lệ
doanh nghiệp "mất tích" (có nghĩa là giải thể mà không khai báo)
ở Việt Nam là tương đối cao cũng một phần do chưa có một cơ chế
hậu kiểm tốt.
Ông Trương Trọng Nghĩa, Phó Giám đốc,
Trung tâm Xúc tiến thương mại và Đầu tư TPHCM (ITPC),
Trưởng ban Điều hành Hệ thống Đối thoại Doanh Nghiệp với chính
quyền thành phố
-
Hiện nay có ba cơ sở
dữ liệu về doanh nghiệp nằm ở ba cơ quan khác nhau và số liệu về
số lượng doanh nghiệp của các cơ quan này đưa ra, theo tôi, đều
đúng cả. Bộ Kế hoạch và Đầu tư quản lý cơ sở dữ liệu về các
doanh nghiệp được cấp phép ĐKKD nên số liệu công bố là con số
các doanh nghiệp đã được đăng ký (tức là được khai sinh) cộng
dồn của nhiều năm (hiện nay khoảng 140.000 doanh nghiệp). Cơ
quan thuế lại quản lý cơ sở dữ liệu về các doanh nghiệp được cấp
mã số thuế vì theo quy trình thành lập doanh nghiệp, các doanh
nghiệp sau khi đăng ký kinh doanh đều phải đến cơ quan thuế để
xin mã số thuế. Danh sách này cũng lớn, khoảng trên 100.000
doanh nghiệp. Cơ quan thống kê quản lý cơ sở dữ liệu của những
doanh nghiệp thực tế đang còn hoạt động trong nền kinh tế quốc
dân nên số liệu công bố đã loại trừ những doanh nghiệp mất đi và
được cập nhật đến thời điểm cơ quan thống kê tiến hành điều tra,
thường là 31 tháng 12 hàng năm. Tính đến 31/12/2003 có tổng số
72.012 doanh nghiệp đang hoạt động trong nền kinh tế. Theo tôi,
con số của thống kê về doanh nghiệp thực sự còn hoạt động có ý
nghĩa giúp xác định được từng khối doanh nghiệp đóng góp vào
tăng trưởng như thế nào thông qua các chỉ tiêu như % GDP, nộp
ngân sách, tích luỹ cho đầu tư v.v.
Trong những năm gần đây, con số doanh nghiệp cấp ĐKKD được công
bố và sử dụng nhiều hơn, trong khi các con số khác, như con số
của thống kê, ít được người sử dụng quan tâm. Hơn nữa, những con
số công bố không được giải thích bản chất của nó khiến nhiều
người sử dụng không hiểu rõ nguồn gốc và bản chất của những con
số công bố đó. Tôi nghĩ rằng ba cơ quan nắm giữ ba cơ sở dữ liệu
về doanh nghiệp nên ngồi lại với nhau để có được những phân tích
có giá trị về toàn cảnh bức tranh của doanh nghiệp Việt Nam.
Ông Vũ Văn Tuấn, Vụ trưởng, Vụ Thống kê công nghiệp và xây dựng,
Tổng cục Thống kê
-
Với sự giúp đỡ của
Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), Cục Phát triển DNNVV
phối hợp với các Sở Kế hoạch và Đầu tư của 30 tỉnh, thành phố
phía Bắc đã tiến hành cuộc điều tra khảo sát quy mô về nhu cầu
của DN. Mục tiêu của cuộc khảo sát là giúp hình thành một cơ sở
dữ liệu chuẩn xác và chính thống về DN nói chung và DNNVV trên
địa bàn nói riêng để sử dụng cho các yêu cầu thông tin chung.
Hiện nay chúng tôi đang trong quá trình thu thập số liệu và xử
lý thông tin, nhưng kết quả sơ bộ cũng cho thấy rằng có sự chênh
lệch đáng kể giữa con số doanh nghiệp đăng ký với con số doanh
nghiệp thực tế đang còn hoạt động. Sự chênh lệch này là do một
số yếu tố chính sau. Thứ nhất, có một số doanh nghiệp có đăng ký
kinh doanh nhưng thực chất chưa hề hoạt động do đăng ký thành
lập khi mới có ý tưởng kinh doanh một cách phác hoạ, chưa cụ thể,
sau đó không triển khai. Trường hợp thứ hai là nhiều doanh
nghiệp vẫn còn hoạt động nhưng chuyển địa điểm mới mà không
thông báo lại với cơ quan ĐKKD. Trường hợp cuối cùng là các
doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh để triển khai ý tưởng kinh
doanh nhưng không được do cơ hội đầu tư không còn nữa. Trong
trường hợp này, lẽ ra doanh nghiệp có nghĩa vụ trả lại giấy phép
ĐKKD và con dấu nhưng họ đã không làm; trong khi đó cán bộ của
các cơ quan ĐKKD do công việc quá nhiều cũng không thể theo dõi
để thu hồi lại giấy phép ĐKKD.
Ông Tạ Đình Xuyên, Giám đốc, Trung tâm Hỗ trợ kỹ thuật DNNVV tại
Hà Nội
-
Sở
Kế hoạch và Đầu tư chỉ có thể thống kê số doanh nghiệp thành lập
mới và số doanh nghiệp chính thức giải thể, còn để biết trên
thực tế doanh nghiệp có còn hoạt động hay không thì cần phải
phối hợp với cơ quan thuế và chính quyền địa phương mới nắm bắt
được cụ thể. Chẳng hạn trong năm 2004, chúng tôi có gửi thư yêu
cầu nộp báo cáo hoạt động kinh doanh tới hơn 50.000 doanh nghiệp
thì hơn 3.000 thư bị trả lại vì không có người nhận. Một trong
những lí do của hiện tượng này là rất nhiều doanh nghiệp chuyển
trụ sở mà không làm thủ tục thay đổi nội dung giấy ĐKKD. Ngoài
ra, chúng tôi cũng biết rằng có một số trường hợp doanh nghiệp "tự
biến mất", tức là tự giải thể mà không báo cho cơ quan ĐKKD.
Theo tôi dự đoán, có nhiều doanh nghiệp thực hiện ĐKKD vì một
mục đích khác chẳng hạn như để nhập hộ khẩu về thành phố nên
chưa bao giờ hoạt động trên thực tế cả. Về việc có nhiều doanh
nghiệp giải thể mà không làm thủ tục giải thể chính thức thì
theo tôi lý do chính không phải do các thủ tục giải thể doanh
nghiệp quá phức tạp mà là do nhiều doanh nghiệp cố tình trốn
thuế. Để tiến hành thủ tục giải thể, doanh nghiệp phải hoàn
thành quyết toán thuế trước nhưng nhiều doanh nghiệp nợ thuế đã
lâu, đến khi không hoạt động nữa họ cũng không muốn làm thủ tục
giải thể để không phải trả thuế.
Ông Đào Xuân Đức, Trưởng phòng Đăng ký kinh doanh, Sở Kế hoạch
và Đầu tư TPHCM
>> Xem thêm
|