|

|
|
|
KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN
Tăng trưởng về chất
Trong
những năm gần đây, khu vực kinh tế tư nhân, chủ yếu là doanh nghiệp
nhỏ và vừa (DNNVV), đã được nhìn nhận như động lực tăng trưởng kinh
tế quan trọng của Việt Nam. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) hiện đang
xây dựng kế hoạch phát triển DNNVV giai đoạn 2006-2010. Kế hoạch này
sẽ là một bộ phận cấu thành của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
5 năm 2006-2010 của Chính phủ Việt Nam. Trên cơ sở bản kế hoạch này,
Cục Phát triển DNNVV của Bộ KH-ĐT sẽ xây dựng một kế hoạch hành động
về phát triển DNNVV bao gồm các chương trình, biện pháp trợ giúp cho
khối doanh nghiệp này.1 Với bối cảnh trên, bản tin này
bàn về tăng trưởng của khu vực kinh tế tư nhân hiện nay, đưa ra một
số đề xuất về chính sách nâng cao chất lượng phát triển của khu vực
kinh tế này.
Việc
đăng ký thành lập doanh nghiệp đã trở nên khá dễ dàng, giúp tăng
nhanh số lượng doanh nghiệp thành lập mới
Luật Doanh nghiệp năm 1999
đánh dấu một mốc quan trọng trong những nỗ lực của Nhà nước nhằm tạo
điều kiện cho khối kinh tế tư nhân phát triển. Với tinh thần chủ đạo
là "doanh nghiệp được tự do kinh doanh những gì mà pháp luật không
cấm", chuyển từ "cấp phép kinh doanh" sang "đăng ký kinh doanh",
Luật Doanh nghiệp 1999 đã giúp giảm đáng kể thời gian và chi phí
đăng ký thành lập doanh nghiệp. Nhờ đó, mỗi năm có thêm hàng chục
ngàn doanh nghiệp được chính thức thành lập. Theo số liệu của Trung
tâm Thông tin Doanh nghiệp (TTTTDN) của Bộ KH-ĐT, kể từ khi Luật
Doanh nghiệp có hiệu lực vào đầu năm 2000, số lượng doanh nghiệp
đăng ký thành lập mới cho đến cuối năm 2003 nhiều gấp hơn hai lần số
lượng doanh nghiệp thành lập trong vòng 10 năm trước đó, nâng tổng
số doanh nghiệp tại Việt Nam lên khoảng 128.000.
Số lượng
doanh nghiệp thực sự đang hoạt động không nhiều như con số đăng ký
Theo điều tra của Tổng cục
thống kê (TCTK), số doanh nghiệp đang hoạt động tính đến thời điểm
cuối năm 2002 là 62.908, cuối năm 2003 là 72.012,2 tức là
khoảng 55% so với số doanh nghiệp đã đăng ký. Trong một nền kinh tế
thị trường tự do cạnh tranh, việc dừng kinh doanh cũng như việc đăng
ký kinh doanh mới là hiện tượng bình thường của quá trình phát triển
khi mà các doanh nghiệp phản ứng với những thay đổi liên tục của môi
trường bên ngoài, ví dụ như cơ hội thị trường mới, các khó khăn mới
xuất hiện v.v. Vì vậy, hiện tượng số lượng doanh nghiệp còn hoạt
động ít hơn số lượng doanh nghiệp đã đăng ký thành lập là một điều
dễ hiểu và ở một mức độ nào đó phản ánh sự năng động của khối doanh
nghiệp tư nhân. ở các nước phát triển thuộc tổ chức OECD, tỷ lệ
doanh nghiệp còn hoạt động sau 2 năm vào khoảng 60-70% và sau 7 năm
thì chỉ còn là 40-50%. Tuy nhiên, hệ thống đăng ký doanh nghiệp hiện
nay của Việt Nam chưa cung cấp được thông tin đầy đủ về những doanh
nghiệp đã dừng hoạt động hay thay đổi và lý do thay đổi. Theo kết
quả nghiên cứu gần đây của MPDF, nguyên nhân giải thích sự chênh
lệch giữa số liệu của cơ quan phụ trách đăng ký doanh nghiệp và TCTK
là (i) doanh nghiệp giải thể và ngừng hoạt động thì hầu như không
được ghi nhận trong hệ thống đăng ký doanh nghiệp của TTTTDN; (ii)
nhiều doanh nghiệp đăng ký thành lập không phải là doanh nghiệp
thành lập mới mà là chi nhánh hoặc công ty con của một doanh nghiệp
khác và (iii) một số doanh nghiệp có thể đăng ký nhằm phục vụ những
mục đích cá nhân hay mục đích đặc biệt của riêng doanh nghiệp (ví dụ
như được mua quyển "hóa đơn đỏ" VAT).3 Hiểu rõ hơn những
nguyên nhân này sẽ giúp Nhà nước có được các chính sách quản lý và
hỗ trợ doanh nghiệp thiết thực hơn.
Các
doanh nghiệp đang hoạt động chưa phát triển mạnh về chất do còn
nhiều khó khăn trong hoạt động sau đăng ký
Trong khi việc thành lập
doanh nghiệp đã dễ dàng hơn nhiều, thì hoạt động kinh doanh cũng như
cơ hội đầu tư mở rộng sản xuất của doanh nghiệp tư nhân sau đăng ký
vẫn còn bị nhiều cản trở. Tuy khối doanh nghiệp tư nhân tăng nhanh
về số lượng nhưng quy mô đầu tư sản xuất nói chung còn tương đối nhỏ.
Một doanh nghiệp tư nhân bình quân chỉ có 31 lao động, 4 tỷ đồng vốn
- thấp hơn đáng kể so với con số 421 lao động và 167 tỷ đồng vốn của
doanh nghiệp nhà nước và 299 lao động, 134 tỷ đồng vốn của doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Quy mô vốn có hạn đã hạn chế khả
năng trang bị công nghệ tiên tiến của doanh nghiệp ngoài quốc doanh,
với mức đầu tư trung bình cho tài sản cố định trên một lao động chỉ
có 43 triệu đồng so với 137 triệu đồng đối với doanh nghiệp nhà nước
và 247 triệu đồng đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.4
Doanh nghiệp tư nhân không thể tham gia vào những dự án lớn từ ngân
sách Nhà nước cũng như khó cạnh tranh trên thị trường quốc tế do quy
mô quá nhỏ và năng lực hạn chế. Trong nhiều trường hợp, tốc độ phát
triển của các công ty tư nhân bị hạn chế bởi một số yếu tố của môi
trường kinh doanh. Đó là những cản trở trong việc tiếp cận các nguồn
lực thiết yếu bên ngoài như đất đai, vốn đầu tư và các hạn chế do
một số quy định có tính kiểm soát còn cứng nhắc, đặc biệt trong lĩnh
vực thuế.5
Cần có những chính sách
tập trung hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân tăng trưởng về chất lượng
Có khá nhiều chính sách
hỗ trợ và khuyến khích đầu tư cho doanh nghiệp thành lập mới nhưng
ít có những chính sách hiệu quả để khuyến khích doanh nghiệp tăng
trưởng về chất. Nhà nước cần tập trung mạnh hơn vào các chính sách
và biện pháp giúp doanh nghiệp thực sự lớn mạnh và phát triển hơn
nữa về chất lượng. Những ưu tiên hàng đầu về mặt chính sách trong
các năm tới có thể là:
-
Cải cách hệ thống
tính và thu thuế - những quy định quá thiên về mặt kiểm soát hơn
là tạo điều kiện trong việc tính và thu thuế, bao gồm cả vấn đề
hóa đơn VAT, sẽ là rào cản lớn đối với những doanh nghiệp tư
nhân muốn kinh doanh minh bạch, công khai để tiếp cận được đầy
đủ các nguồn lực cần thiết để phát triển.
-
Giải quyết có hiệu
quả những hạn chế trong chính sách về đất sản xuất và văn phòng–giải
pháp này có lẽ sẽ có tác động lớn nhất và có hiệu quả nhất trong
mọi nỗ lực phát triển kinh tế tư nhân trong giai đoạn hiện nay.6
-
Tạo cơ hội cho doanh
nghiệp tư nhân được cạnh tranh bình đẳng trong các lĩnh vực kinh
doanh cho đến nay vẫn dành riêng cho khu vực doanh nghiệp nhà
nước, như dầu khí, viễn thông, cơ sở hạ tầng v.v. Các chính sách
phát triển kinh tế tư nhân chỉ phát huy tác dụng khi Nhà nước
đồng thời đẩy mạnh việc giảm bớt sự độc quyền và trợ cấp kinh
doanh cho các doanh nghiệp nhà nước.
-
Cải cách và tạo điều
kiện cho doanh nghiệp dễ dàng thực hiện các thủ tục về giải thể
và phá sản, sát nhập, hợp nhất doanh nghiệp. Những chính sách
khuyến khích doanh nghiệp tiếp tục tăng trưởng cần đi liền với
các chính sách tạo điều kiện cho doanh nghiệp tự do thoát khỏi
những lĩnh vực kinh doanh kém hiệu quả để thực sự năng động
trong kinh doanh.
(1) MPI–UNIDO, Tài liệu hội thảo Xây
dựng Kế hoạch Phát triển Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa giai đoạn
2006-2010, tháng 1 năm 2005
(2) Tổng cục thống kê, Thực trạng doanh nghiệp qua kết quả điều tra
năm 2002, 2003, 2004, Nhà xuất bản thống kê, 2005
(3) IFC/MPDF, Chuyên đề Nghiên cứu Kinh tế tư nhân số 20, Đằng sau
những con số công bố - Đăng ký và Thành lập Doanh nghiệp tại Việt
Nam, tháng 6 năm 2005
(4) Tổng cục thống kê, Thực trạng doanh nghiệp qua kết quả điều tra
năm 2001, 2002, 2003, Nhà xuất bản thống kê, 2004
(5) Ngân hàng Thế giới, Phân tích chính sách Phát triển khu vực tư
nhân Việt Nam : Hoạt động của doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh–Các
doanh nghiệp tư nhân Việt Nam hoạt động như thế nào, Tháng 6 năm
2004
(6) Ngân hàng Thế giới, như trên. |